PMK is A noBAD Friend

Posts tagged “ảnh

Tập thể hình theo hình ảnh hướng dẫn

  • Lợi ích của tạ đôi là có thể giúp tập luyện thể hình toàn thân chứ không chỉ để tập bắp tay
  • Với tạ đôi cả hai cánh tay đều phải tập luyện đồng đều nên có thể giảm thiểu sự mất cân đối
  • Tạ đôi có thể giúp tập luyện những nhóm cơ nhỏ mà máy tập không thể thực hiện được
  • Chuyển động đa dạng của tạ dôi có thể phát triển sức mạnh của cơ trong thời gian ngắn
  • Nhiều huấn luyện viên thể hình tin rằng tập với tạ đôi thì lý tưởng để đạt kết quả nhanh chóng
  • Thể hình là chìa khóa – chuyển động chậm và chắc chắn cho từng động tác một sẽ tốt hơn
  • Tập ít nhất 2 lượt cho mỗi động tác. Tăng thêm số lần nâng tạ sau mỗi bài tập.
  • Nghĩ ngơi giữa các lần tập. Tăng trọng dần lượng tạ lên khi sức cơ cho phép.
  • Nếu bạn có vấn đề về sức khỏe hãy tham vấn chuyên gia sức khỏe trước khi tập luyện

Tập Ngực Trên

Tập Mông, Đùi và Lưng Dưới

Tập Vai Trước

Giãn Gân

Tập Vai, Cổ và Lưng Trên

Tập Cổ Chân và Bắp Chân

Tập Ngực và Lưng

Tập Eo Hông

Tập Bắp Tay



Tập Cơ Bụng

Tập Lưng


Tạo hiệu ứng HDR bằng Photoshop CS5

1.jpg

Ảnh trước (bên trái) và sau khi (bên phải) xử lý kỹ thuật HDR trong Photoshop CS5.

ICTnews – Ở các phiên bản trước, Photoshop không tạo được nhiều ấn tượng khi xử lý ảnh HDR. Tuy nhiên, tới CS5, Adobe đã đẩy các tính năng liên quan tới HDR lên một tầm cao mới.

Tính năngtrong Photoshop cho phép người dùng kết hợp nhiều bức ảnh nguồn thành một bức ảnh HDR với độ trung thực màu cao. Nhưng điểm thực sự ấn tượng nhất của CS5 là tính năng HDR Toning, giúp bạn “hóa phép” hiệu ứng HDR lên một bức ảnh bình thường duy nhất.

HDR (HightDynamicRange) là kỹ thuật xử lý để có những tấm ảnh số giao thoa giữa thực và ảo.

Trong bài viết này, tôi xin giới thiệu những bước đơn giản để có được “phép màu” đó với Photoshop CS5.

Bước 1

2.jpg

Mở file ảnh gốc của bạn bằng CS5. Vào trình đơn Image, chọn thẻ Adjustment và bấm trỏ chuột vào tùy chọn HDR Toning.

Bước 2

3.jpg

Một hộp thoại sẽ xuất hiện với thanh trượt để điều chỉnh hiệu ứng HDR. Bạn sẽ được chứng kiến thay đổi của ảnh gốc tương ứng với mỗi vị trí khác nhau trên thanh trượt. Tại trình đơn Methodd, bạn có thể chọn chế độ tự động Local Adaptation, thường cho kết quả tốt nhất.

Bước 3

4.jpg

Tiếp tục điều chính các giá trị ở vùng Color. Kéo thanh trượt Vibrance về phía phải sẽ khiến màu sắc của bức ảnh trở nên sắc nét hơn, tạo hiệu quả đáng kể cho hiệu ứng HDR.

Bước 4

5.jpg

Ở khu tùy chỉnh Tone and Detail, di chuyển thanh trượt Detail về phía trái. Nó sẽ giúp giảm bớt các chi tiết thừa cho ảnh và tạo cảm giác bức ảnh của bạn có phần hư ảo hơn, một yếu tố thường thấy trong ảnh HDR.

Bước 5

6.jpg

Kéo thanh trượt Detail sang phải, bạn sẽ có thể thấy sự thay đổi của vùng tường gạch trong bức ảnh. Đây cũng là điều chỉnh cuối cùng để bức ảnh của bạn hoàn toàn biến thành một tác phẩm HDR thực thụ.


Tháo lắp lens để vệ sinh

Với lens manual thì việc tháo ra khá đơn giản.

Để tháo vòng trên mặt lens phải có một dụng cụ bằng cao su như hình dưới

Sau đây là phần ruột lens đã lấy ra ngoài.

Để chùi lens cần phải có giấy và nước chuyên dùng.

Với nhửng vòng ring có ngạnh để cảo thì phải dùng cảo thích hợp.


Có những vòng ring trơn không ngạnh thì dùng vòng caosu

Để bốc những lăng kính cần có cây gắp hít dính ( lens sucker )


Cuối cùng tất cả cũng đã được tháo rời ra để vệ sinh


ЛОМО-компакт hay là Lomography

Sau đây là bài viết tại blog của H2C nói về nhiếp ảnh Lọmọ. Thể loại nhiếp ảnh trông có vẻ dễ nhất trên đời với tiêu chí: “don’t think, just shot”….

Định nghĩa về lomography:
“Lomography là một trường phái nhiếp ảnh mà trong đấy màu sắc được nhấn mạnh kết hợp với những hình ảnh đặc trưng của cách làm mờ nét, ngẫu nhiên các chủ thể… và phá vỡ tất cả qui định của nhiếp ảnh truyền thống để tạo ra những bức ảnh lạ, khác thường thậm chí quái đản.”

Quay ngược về lịch sử, vào năm 1991, có hai anh chàng sinh viên người Áo thuộc học viện nghệ thuật Viên tên là Mattias Figl và Volfgang Stransinger đi nghỉ ở Praha – CH Séc. Có lẽ nghèo hay do quên cầm theo máy ảnh nên khi tới Praha, Mattias đã tìm mua được một cái máy ảnh compact cũ của Liên Xô mác “ЛОМО-компакт’” – LOMO compact sản xuất vào những năm 80 – chắc là với giá cực bùn chứ không đắt đỏ như bây giờ!. Thế rôi trong kỳ nghỉ tại Praha, cả hai dùng cái máy đó chụp một sê-ri hình đời thường, snapshot tại đây một cách ngẫu hứng, không để ý đến thông số và kỹ thuật chụp – mà có để ý thì máy Lomo cũng chả có gì để mà chỉnh!!!. Thậm chí sau khi trở lại trường ở Viên, đôi bạn còn tiếp tục nghịch máy trên mái nhà ký túc xá.

”Sử” chép lại rằng: sau khi rửa ảnh, dán chúng lên một tấm pano to, sê-ri các tấm hình ngẫu hứng đã đem lại ấn tượng đặc biệt và tạo một cảm xúc mạnh mẽ cho đám sinh viên nghệ thuật Viên. Những sinh viên này đã quyết định tổ chức một cuộc triển lãm ảnh chụp được từ máy ảnh LOMO, tuy là dân nghệ thuật nhưng với cái đầu nhậy bén về marketing và kinh doanh nên hai sinh viên cùng với đám bạn đã thành lập một tổ chức chính thức để xin trợ cấp của chính quyền thành phố Viên cho cuộc triển lãm. Và Hội Lomo quốc tế (Lomographic Society) đã ra đời vào năm 1993 như vậy đấy!

Lomo thực chất là chữ viết tắt của: Leningradskoje Opticko Mechanitscheskoje Objedinenie. Tiếng Nga là: Ленинградское оптико-механическое объединение (ЛОМО). Thuở ban đầu, nó chỉ là tên của một loại máy ảnh thông thường ra đời vào những năm 70 của thế kỉ trước tại Liên Xô cũ do tổ hợp công nghiệp quang học Leningrad LOMO chế tạo ra. Một kiểu máy ảnh nhái theo các máy compact đang rất thịnh hành thời đó do Nhật Bản sản xuất nhưng với một số khiếm khuyết đặc trưng về ống kính (lens) tạo ra độ nhạy cảm đặc biết với màu đỏ, xanh, vàng,.. Và cũng thật mỉa mai (!?) và kỳ lạ là chính những đặc điểm này lại là mấu chốt để tạo nên phong cách của Lomo.

Trường phái này có gì đặc biệt? Thứ nhất, các ảnh theo phong cách Lomo được chụp bằng máy phim compact LOMO LCA (Lomo Compact Automate) được sản xuất tại Leningrad trước đây và Saint-Peterburg hiện nay và một số máy khác nằm trong danh sách của Hội như Holga, Lomofisheye… Thứ hai, phong cách chụp của trường phái Lomo thật ngẫu hứng, tự do và tùy tiện nhất. Với tư tưởng “hãy chụp vô tư đi, đừng nghĩ nhiều!” của lomo, người chụp không cần quan tâm đến những kiến thức phức tạp về nhiếp ảnh, như tiêu cự , độ cảm quang, khẩu độ v.v. cũng không cần quan tâm đến mình sẽ thu được gì sau lần bấm máy, tất cả chỉ có thể được biết sau khi cuộn phim được rửa, mang đến niềm vui , sự bất ngờ , với những màu sắc mang đậm chất lomo. Hội Lomo đã ra “tuyên ngôn” về Mười nguyên tắc vàng của Lomography:

1. Hãy đem theo máy bất kể bạn đang ở đâu
2. Chụp không kể ngày đêm
3. Đừng lo lomo làm ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn, vì lomo chính là một phần cuộc sống của bạn
4. Nếu có mục tiêu , hãy tiến sát và bấm máy
5. Không cần lo nghĩ
6. Phải nhanh
7. Không cần suy nghĩ bạn sẽ chụp gì
8. Không cần suy nghĩ bạn đã chụp gì
9. Hãy chụp từ mọi góc độ, thậm chí từ… hông
10. Cuối cùng: đừng quan tâm đến 9 điều trên!!!

(Nhiếp ảnh Lomo có thể là cách giảm stress tuyệt vời khi bạn chỉ đi ngoài phố chụp tất cả những giìbạn thích mà không cần lo nghĩ góc máy hay tất tần tật……nhưng hãy cẩn thận nếu như chụp nhiều quá, một ngày bạn sẽ quên thế nào là khẩu độ, set up, ánh sáng…..tẩu hoả nhập ma như chơi ạ…..)

Ngày trước, lomography chính thống được chụp trên máy ЛОМО-компакт của Nga với cách rửa phim slide C-41….nhưng ngày nay có thể chụp bằng DSLR và chỉnh sửa màu sắc sao cho nó Lọmọ là được (nếu thích, các bác có thể bôi ít đầu ăn lên filter cho nó có cái chất lượng kém của lens do Nga sản xuất nhé)…..tại CBS chúng ta đã có anh monte sử dụng đúng máy Lomo của Nga, và chụp cũng đúng phong cách ” nghĩ làm giề, bắn đê” của Lomo. Có thể xem tại đây.

Chúc các bác có thêm món xả stress và những tấm hình không nghĩ ngơi gì nhiều nhé…..thử đi, ngay khi các bác không sợ tầu hoả nhập ma

MỘt vài tấm hình Lomo

KEVIN


Để chụp Panorama tốt hơn

Trong số những ích lợi mà kỹ thuật số mang đến cho nhiếp ảnh là tạo ảnh toàn cảnh (panorama). Ngày xưa, để có ảnh panorama, bạn phải cần đến một máy ảnh đặc biệt, hoặc phải ghép nối cả 1 bộ ảnh. Còn ngày nay, bạn có thể có ngay ảnh panorama rất dễ dàng bằng những chương trình xử lý ảnh hoặc các phần mềm nối ảnh panorama miễn phí như Image Composite Editor (http://research.microsoft.com/en-us/um/redmond/groups/ivm/ICE/) hoặc CleVR (www.clevr.com). Do đó, bạn cần kiểm soát chất lượng những ảnh đầu vào nếu muốn có 1 ảnh panorama đầu ra tốt bằng một số thủ thuật dưới đây.

 

1. Kiểm soát đo sáng

Để chụp một bức ảnh panorama, bạn sẽ cần ghép nhiều tấm ảnh lại với nhau. Nhưng ngay cả khi chụp trong điều kiện nắng tốt, có thể bạn sẽ thấy những mảng sáng và tối “chia cắt” ảnh panorama. Đó là do máy ảnh đo sáng khác nhau trong mỗi tấm ảnh thành phần. Bạn sẽ không dễ dàng sửa lỗi này trong chương trình xử lý ảnh. Muốn ngăn ngừa, bạn hãy thiết lập chế độ tự kiểm soát (Manual) và khóa đo sáng cho loạt ảnh. Nếu không chắc về phần đo sáng, hãy trỏ máy ảnh về nơi sáng nhất và tốt nhất trong bức ảnh panorama dự kiến, lưu ý các giá trị tốc độ do máy đề nghị (cố định giá trị ISO và khẩu độ, chỉnh theo thanh đo sáng, hoặc cố định ISO và tốc độ để xem giá trị khẩu độ) rồi thiết lập giá trị trung bình tương đối giữa chúng. Ví dụ, cố định ISO là 200 và khẩu độ f11 thì đo tốc độ được 2 giá trị là 1/250 và 1/60, lúc này bạn có thể chọn giá trị tốc độ 1/125 để chụp với ISO 200 và khẩu độ f11.

Cần kiểm soát đo sáng khi chụp panorama

2. Chụp ở tiêu cự thông thường

Thông thường, người ta dùng các ống kính góc rộng (wide) hoặc siêu rộng (super wide) để chụp ảnh phong cảnh. Thế nhưng điểm yếu của ảnh dạng này là hay bị biến dạng ở 2 rìa ảnh bên trái và bên phải, khiến cho phần mềm nối ảnh panorama sẽ khó ghép đúng những phần chồng lên nhau giữa các ảnh. Mặt khác, nếu chụp ở tiêu cự dài (tele), do giới hạn của góc nhìn ống kính nên sẽ khó chụp được đầy đủ cái “hồn” bao la, rộng lớn của phong cảnh. Vì thế, bạn nên đưa tiêu cự về khoảng thông thường, từ 25-55mm.

 

3. Chụp từ trái sang phải

Bạn có thể bắt đầu chụp ảnh panorama trong bất kỳ điều kiện nào: bắt đầu từ bên trái và kéo dần sang bên phải, hoặc làm theo chiều ngược lại, miễn là bạn lấy được đủ những phần chồng lên nhau giữa các ảnh. Tuy nhiên, với kiểu chụp ảnh từ trái sang phải, khi xem ảnh dưới dạng thu nhỏ (thumbnails) sau đó, bạn sẽ dễ dàng nhận ra loạt ảnh dự định tạo ảnh panorama được bắt đầu và kết thúc ở đâu.

 

4. Thận trọng với vật thể chuyển động

Trước và trong khi bấm máy, bạn cần lưu ý đến những vật thể có thể chuyển động trong khung ảnh panorama dự định tạo ra, ví dụ như chiếc ôtô đang chạy trên đường. Giả sử bạn “bắt dính” chiếc ôtô đó (ở 2 vị trí khác nhau) trong 2 bức của loạt ảnh, nhiều khả năng ảnh panorama đầu ra sẽ có đến 2 chiếc ôtô, dù thực tế chỉ có 1 chiếc mà thôi.

Taxi (đang chạy) “nhân hai”

 

5. Thận trọng với hiệu ứng đường cong

Khi ghép ảnh, phần mềm nối ảnh panorama sẽ nối các bức ảnh thành một ảnh góc rộng ảo, nhưng các vật thể thẳng như đường phố lại có hiệu ứng cong giống ảnh chụp bằng ống kính mắt cá (fish-eye). Khoảng cách đến vật thể thẳng càng gần, hiệu ứng cong càng hiển thị rõ ràng. Giải pháp đề xuất là hãy chụp ảnh từ khoảng cách càng xa càng tốt. Mặc khác, đường ngang trong ảnh panorama tạo ra cũng sẽ bị dính hiệu ứng cong nếu lúc chụp ảnh bạn chỉ đứng 1 chỗ và lia máy, bạn nên thử di chuyển theo đường thẳng song song với khung cảnh để giảm bớt hiệu ứng cong.

Ảnh bị hiệu ứng cong do đứng gần

 

6. Chụp nhiều ảnh để dễ cắt xén

Vì phần mềm nối ảnh panorama tạo ra 1 ảnh góc rộng từ nhiều bức ảnh, nên cạnh trên và cạnh đáy ảnh panorama tạo ra có nhiều biến dạng xéo góc, đòi hỏi bạn phải cắt xén ảnh (crop) để có 1 ảnh đẹp. Vì vậy, hãy chụp nhiều ảnh hơn cho 1 cảnh panorama nhằm giảm bớt độ xéo góc, giúp tạo được ảnh panorama hoàn chỉnh hơn.

 

7. Chụp ảnh panorama thẳng đứng

Phần mềm nối ảnh panorama cũng có thể nối ảnh theo chiều thẳng đứng dễ dàng như ảnh theo chiều ngang. Do đó, ảnh panorama không cứ phải là theo chiều ngang như kiểu truyền thống, hay phải xoay máy ảnh theo chiều thẳng đứng để chụp. Hãy tự phá vỡ giới hạn đó bằng những ảnh panorama về tòa nhà chọc trời hoặc ngọn tháp, bức tượng mà bạn gặp với những ảnh chụp từ trên xuống dưới theo kiểu cầm máy ngang.

Ghép ảnh thẳng đứng chụp theo kiểu cầm máy ngang

 

PCW Mỹ tháng 5/2010


Các kiểu máy Praktica

Máy Praktica còn có các tên khác, sản-xuất trước và sau thế-chiến, như Praktiflex, Praktica, Prakticamat và Praktina… Tất cả đều là máy 35 mm. Năm 1957, máy Praktisix dùng phim cỡ trung 120 ra đời.

Ta có thể chia Praktica thành 6 nhóm :

NHÓM 1.

Máy Praktiflex, số-lượng sản-xuất thấp, có người ghép vào loại máy thử-nghiệm.

PRAKTIFLEX (1938).

Máy Prakticaflex có hệ-thống nhắm từ trên xuống, ống kính vặn răng ốc M40 (đường-kính 40 mm, không gắn được các ống kính mới sau này), không có nơi gắn flash, tốc-độ từ 1/25 tới 1/500 giây. Trang-bị ống kính Victor 50 mm f/2.9 hoặc Tessar 50 mm f/3.5 hoặc Biotar 50 mm f/2.0. Một số máy gắn lớp da xanh, đỏ hoặc xám. Máy bình thường bọc da đen.

Về đặc-tính kỹ-thuật, máy này còn kém so với máy Kine Exakta sản-xuất cùng thời.

NHÓM 2.

Ðặc-điểm chính của nhóm này là ống kính bắt vào thân máy bằng cách vặn răng ốc M42 (đường-kính 42 x 1 mm, tương-tự như máy Pentacon/Contax S, đồng-thời với máy Pentax của Asahi Optical Co. của Nhật), tuy khá hơn trước nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu-cầu tăng-trưởng của hệ-thống ống kính sản-xuất sau này.

Nhóm máy này có tốc-độ chậm, dùng nấc thang tốc-độ cũ như ½ giây, 1/5, 1/10, 1/25, 1/50, 1/100, 1/200, 1/500 v.v… Từ kiểu FX trở đi có cơ-phận cắm flash, nhưng không theo tiêu-chuẩn quốc-tế. Hệ-thống nhắm ngang mắt, có cần lên phim…

PRAKTIFLEX II (1948).

Ống kính cơ-bản Victor 50 mm f/2.9, bắt vào thân máy bằng răng ốc M40, tốc-độ chậm nhất là 1/25 giây. Nhắm máy từ trên xuống.

PRAKTICA (1952).

Máy này dùng răng ốc cỡ M42 của Pentacon để bắt ống kính vào thân máy, cùng kiểu với Contax S, và trở thành tiêu-chuẩn của Praktica từ nay về sau, và được nhiều hãng bắt chước (gọi là cách bắt “răng ốc phổ-thông”), trong đó có Asahi Pentax của Nhật. Máy nhìn từ trên xuống và vẫn dùng nấc thang tốc-độ cũ; không có tương-hợp flash.

PRAKTIFLEX FX (1955).

Giống như máy Praktica FX, khắc tên Praktiflex II để xuất-cảng sang Hoa-Kỳ, ống kính cơ-bản Primoplan 50 mm f/1.9 hoặc Tessar 50 mm f/2.8. Máy này có chỗ cắm flash, có máy có tới ba chỗ, nhưng tất cả đều không theo tiêu-chuẩn quốc-tế, ngoại trừ đợt sau chót.

PRAKTINA FX (1956-1959).

Máy Praktina FX là máy tồn-kho, tuy sản-xuất từ 1956-59, nhưng khoảng giữa 1960 mới bán sang thị-trường Hoa-Kỳ.

Tốc-độ từ 1 tới 1/1000 giây và B; hệ-thống kính nhắm thay đổi được, nhìn ngang mắt, hoặc nhìn từ trên nhìn xuống; ống kính cơ-bản Biotar 50 mm f/2.0; một số máy có trang-bị động-cơ lên phim và có lưng máy phụ chứa được nhiều phim.

PRAKTINA IIa (1959-1974).

Tương-tự như kiểu trên; ống kính cơ-bản Jena Flexon 50 mm f/2.0; một số máy có trang-bị động-cơ lên phim và lưng máy phụ chứa được nhiều phim.

NHÓM 3.

Nhóm này có kiểu máy IV và các kiểu IV phụ. Do đó ta có các kiểu như IVB, IVM, IVBM, IVF và IVFB; mà B = có quang-kế trong máy, M = kính nhắm có vòng tròn cắt đôi, F = kính nhắm Fresnel. Máy có hệ-thống kính nhắm là loại đưa ngang mắt, có cần lên phim…

Nhóm này có các máy như :

PRAKTICA IV (1959-1964).

Kính nhắm cố-định, lên phim bằng cần, cần này đặt ở phía dưới đáy máy. Máy có tấm bảng tròn nhỏ để đánh dấu loại phim trong máy.

PRAKTICA PRISMA (1962).

Ðây là kiểu máy Praktica IV khắc tên khác để xuất-cảng sang thị-trường Hoa-Kỳ; ống kính cơ-bản Tessar 50 mm f/2.8.

PRAKTICA IVB (1961-1964).

Tương-tự như kiểu trên nhưng có quang-kế selenium ngay phía trước khối kính nhắm, phía trên ống kính.

PRAKTIVA IVBM (1961-1964).

Tương-tự như kiểu Praktica VB, nhưng kính nhắm có vòng tròn cắt đôi (3).

PRAKTICA IVFB (1961-1964).

Tương-tự như kiểu Praktica VB, nhưng kính nhắm là kính Fresnel.

PRAKTICA IVF (1962-1964).

Tương-tự như kiểu Praktica IV, nhưng kính nhắm là kính Fresnel.

NHÓM 4.

Trước khi máy VF ra đời năm 1964, hệ-thống máy Praktica hoàn toàn lỗi-thời vì không theo kịp các tiến-bộ kỹ-thuật, tiện-nghi và vẻ hào-nhoáng của máy ảnh Nhật.. trong số đó, việc gương phản chiếu không tự-động hạ xuống sau khi bấm máy là một khuyết-điểm lớn.

Kiểu Praktica VFB có những tiện-nghi mới như : gương phản chiếu hoàn trả cấp-thời, nấc thang tốc-độ từ nay theo tiêu-chuẩn quốc-tế, có tốc-độ chậm 1/15 giây, có quang-kế trong máy.

Sự khác-biệt giữa những kiểu Nova/Nova B và VF chỉ là vài thay đổi phía ngoài như nút bấm máy nay đặt ở phía trước máy, bên trái ống kính (khi ta nhìn vào ống kính) và ngả tréo ra phía trước.

PRAKTICA VF (1964-1965).

Máy không có quang-kế, kính nhắm Fresnel… đặc-điểm nổi nhất của máy này là gương phản-chiếu tự-động hạ xuống sau khi bấm máy.

PRAKTICA NOVA (1965-1968).

Tốc-độ máy từ 2 tới 1/500 giây; ống kính cơ-bản Domiplan 50 mm f/2.8.

PRAKTICA NOVA B (1965-1968).

Cũng như trên.

NHÓM 5.

Những máy Praktica trong nhóm này là những máy có đặc-tính kỹ-thuật tương-đương với những máy ảnh 35 mm khác trên thị-trường thế-giới.

PRAKTICAMAT (1965-1969).

Máy Prakticamat lần đầu tiên có quang-kế CdS đo qua ống kính, tốc-độ lên tới 1/1000 giây; ống kính bắt vào thân máy dùng răng ốc M42.

PRAKTICA PL NOVA I (1967-1972).

Núm chỉnh tốc-độ có khớp để chỉnh từng nấc, tốc-độ nhanh nhất tới 1/500 giây. Ống kính cơ-bản Pancolar 50 mm f/1.8.

PRAKTICA PL NOVA IB (1967-1974).

Tương-tự như máy Nova I, nhưng có thêm quang-kế selenium, tương-hợp với flash F và X; ống kính cơ-bản Domiplan 50 mm f/2.8.

Máy còn có tên khác là Porst FX4.

PRAKTICA SUPER TL (1968-1974).

Có quang-kế CdS đo qua ống kính, có núm chỉnh tốc-độ như máy Nhật, từ 1 tới 1/500 và B, tương-hợp với flash F và X, cách gắn phim vào máy nay nhanh và tiện hơn trước… Ống kính cơ-bản Oreston 50 mm f/1.8.

Máy còn có những tên khác như Revueflex SL, Pentor Super TL, Porst Reflex FX6…

NHÓM 6.

Nhóm máy này ra đời bắt đầu từ 1970, điều ta nhận ra được ngay là máy trông gọn, nhỏ và thanh-tú hơn. Kết-quả là bắt kịp tiện-nghi và tính gọn nhẹ của các máy khác trên thị-trường thế-giới.

Phía trong, màn trập phía trước mặt phim, trước kia làm bằng vải và di-chuyển theo chiều ngang, nay làm bằng 6 miếng kim-loại mỏng, di-chuyển từ trên xuống theo chiều đứng. Lợi điểm của phương-pháp này là màn trập bền hơn, tốc-độ chính-xác hơn, tốc-độ flash nhanh hơn (lên tới 1/125 giây, thay vì 1/30 giây hoặc 1/60 giây như trước). Các đặc-tính khác của nhóm 6 là máy có tốc-độ từ 1 tới 1/1000 giây và B xếp đặt theo nấc thang tốc-độ thông-dụng quốc-tế; lên phim bằng cần, quay phim lại lõi bằng tay quay; nút bấm máy ở phía trước máy cạnh ống kính; hệ-thống lắp phim nhanh…

Nhóm này gồm năm kiểu máy :

PRAKTICA L (1969-1975).

Ðây là loại máy cơ-bản của nhóm, không có quang-kế; một số máy có cơ-phận tự chụp, đa số không. Trang-bị ống kính Pentacon Auto 50 mm f/1.8.

PRAKTICA LB (1972-1975).

Tương-tự như kiểu máy trên nhưng có quang-kế selenium (tế-bào cảm-quang là một khung hình chữ nhật đặt phía trước máy, gần ngay tay quay trả phim). Quang-kế này không tương-giao với khẩu-độ và tốc-độ máy : sau khi đọc được hai yếu-tố này ở quang-kế, ta phải chỉnh bằng tay. Trang-bị ống kính cơ-bản Oreston 50 mm f/1.8.

PRAKTICA LTL (1972).

Cũng tương-tự như kiểu Praktica L, nhưng có quang-kế CdS đo qua ống kính, tương-hợp với khẩu-độ và tốc-độ, nhưng đo sáng theo kiểu “khẩu-độ đóng”; núm chỉnh độ nhạy của phim từ 12 tới 1600 ASA. Có cơ-phận tự chụp.

PRAKTICA LLC (1971).

Tương-tự như kiểu Praktica LTL, nhưng quang-kế CdS đo sáng theo kiểu “khẩu-độ mở”, dùng nguyên-tắc “cảm-ứng điện”, do đó khi chụp cận (dùng ống nối hoặc buồng xếp…) hệ-thống đo sáng vẫn chính-xác… Phát-khởi quang-kế bằng cách nhấn nhẹ tay vào nút bấm máy. Hệ-thống “cảm ứng điện” là phát-minh đầu tiên trên thế-giới.

PRAKTICA VLC (19??).

Tương-tự như kiểu Praktica LLC, nhưng hệ-thống nhắm ngang tầm mắt có thể thay thế được bằng các kiểu khác (như nhìn từ trên xuống…), ta cũng có thể thay đổi tới 7 loại kính mờ khác nhau tùy nhu-cầu. Phía trong, tế-bào cảm-quang CdS, từ trước vẫn được đặt trên khối kính nhắm, đo xuống miếng kính mờ, nhưng nay kính mờ thay đổi được, độ trong/đục khác nhau, do đó tế-bào được dời xuống đáy của máy, phía sau gương phản chiếu, tương-tự như Leica SL 2. Máy cũng không có “chân flash tự-động” (12) vì hệ-thống nhắm thay đổi, do đó hãng làm một phụ-tùng gắn lên phía trên tay quay trả phim, giống như Nikon F, F2, F3…

MÁY CỠ TRUNG PRAKTISIX.

Trong số những máy do tổ-hợp sản-xuất, có một kiểu máy cỡ trung dùng phim 120 chụp ra âm-bản 6 x 6 cm, gọi là Praktisix.

Sản-xuất năm 1957, máy có tên là Praktisix, sau đó cải-biến thành kiểu Praktisix II; sau này do VEB Pentacon sản-xuất mang tên Pentacon Six, Pentacon Six TL (kiểu này thay đổi được hệ-thống kính nhắm ngang mắt hoặc nhìn từ trên xuống); sau đó cải-biến thành Exakta 66. Máy trông như cái máy 35 mm quá khổ; ống kính thay đổi được, gắn vào thân máy bằng ngàm; ống kính cơ-bản Tessar hoặc Biometar hoặc Meyer Primotar 80 mm f/3.5. Các ống kính khác gồm có ống kính tầm rộng Flektogon MC 50 mm f/4.0; hoặc ống kính cơ-bản Biometar 80 mm f/2.8; hoặc ống kính tiêu-cự dài Biometar 120 mm f/2.8 và viễn-kính 180 mm f/2.8.


Pin cho máy ảnh cổ xưa

Các công nghệ sản xuất pin

Pin ô-xít thủy ngân (Mercury) : loại pin này được sử dụng rộng rãi cho rất nhiều máy ảnh cổ điển trong những thập niên 60 và 70 cho các hệ thống đo sáng CdS (cadmium sulfide). Những pin này cho dòng 1.35V ổn định trong suốt thời gian sử dụng. Điều này khiến máy ảnh không cần mạch điều chỉnh điện thế, khiến giá thành sản xuất giảm đáng kể. Không may là loại pin này bị cấm tại Mỹ trong thập niên 80 và đã ngừng sản xuất.

Pin ô-xít mangan (Alkaline): Loại này cho dòng 1.5V giảm nhanh theo thời gian sử dụng. Chúng có sức điện động lớn nên không thể xả nhanh. Điều này làm giảm tính hữu dụng khi sử dụng với các thiết bị như flash hay motor drive.

Pin ô-xít bạc: Từ thập niên 70, các nhà sản xuất máy ảnh bắt đầu chuyển sang dòng pin ô-xít bạc loại “cúc áo”. Những pin này cho dòng 1.55V giảm dần theo thời gian sử dụng – không giảm nhanh như các pin alkaline, nhưng nhanh hơn pin ô-xít thủy ngân. Do đó các máy ảnh phải sử dụng thêm “mạch cầu” để giảm ảnh hưởng của việc giảm điện thế.

Pin lithium: Tới thập niên 90, ngay cả những máy ảnh tương đối thuần cơ khí như Leica M7 cũng cần tới nguồn vì chúng có các bộ xử lí phức tạp. Các nhà sản xuất máy ảnh bắt đầu đẩy mạnh sử dụng các pin lithium. Sựa trên hóa chất kim loại nhẹ, các pin lithium có dung lượng rất lớn so với kích thước của chúng – gấp nhiều lần pin alkaline hay pin ô-xít bạc. Chúng hoạt động ở môi trường lạnh tốt hơn và có tuổi thọ trên 10 năm. Điểm không hay duy nhất là lithium gây ô nhiễm, nên bạn hãy vứt bỏ các pin lithium tại các trung tâm tái chế được cấp phép.

Pin sạc: các pin Nickel-cadmium (NiCad) đang bị thay thế dần bởi các pin sạc loại mới hơn là Nicek-Metal-Hydride (NiMH). Với cùng kích cỡ AA phổ thông, các pin NiMH có thể có dung lượng tới 2400mAH. Không như các pin alkaline, loại NiMH có sức điện động thấp nên rất lý tưởng khi dùng cho flash (cảnh báo: không phải flash nào cũng tương thích với các pin NiCad/NiMH).

Các loại pin cho máy ảnh cổ điển

(Dưới đây chỉ liệt kê các loại pin đã ngừng sản xuất và giải pháp thay thế chúng cho các loại máy khác nhau.)

Pin PX-27 (tên khác: EPX27, V27PX, 4NR43)
Thông số:

– Dung lượng: 5.6V
– Loại: Mercury Silver
– Kích thước: …
– Tình trạng: ngừng sản xuất

Dùng cho các máy: Minox 35 GLMinox

Giải pháp thay thế:

1) Dùng 4 pin SR44 1.5V, hoặc PX-28A hoặc PX28S cho các máy không bị ảnh hưởng bởi chênh lệch điện thế.
2) Dùng bộ chuyển cho Minox 35 để dùng pin SR44.


Pin PX-32 (tên khác: Eveready TR164, E164, Varta 164PX, National/Panasonic HM-4N, Rayovac RPX-32, ANSI 1404M, IBC 4NR52)
Thông số:

– Dung lượng: 5.6V
– Loại: Mercury Silver
– Kích thước: nặng 36g, đường kính 17.0mm, cao 44.5mm
– Tình trạng: ngừng sản xuất

Dùng cho các máy: Yashica GSN

Giải pháp thay thế:

1) Rất nhiều máy ảnh, bao gồm cả dòng GSN, có thể dùng pin alkaline loại PX-28A 6V kèm theo 1 lò xo để bổ sung phần thiếu trong hộc pin.
2) Dùng 4 pin LR44 1.5V
3) Dùng PX-32A
4) Một vài máy (không phải máy GSN) cần hiệu chỉnh mạch đo sáng do sai khác giữa nguồn 5.6V và nguồn 6V
5) Dùng bộ chuyển để dùng cho pin PX-28A. Các bộ chuyển này có chứa đi-ốt để hạ dòng xuống 5.6V


Pin PX-400 (tên khác: Energizer E400N, ANSI 1116M, IBC MR42)
Thông số:

– Dung lượng: 1.35V
– Loại: Mercuric Oxide
– Kích thước: nặng 1.40g, đường kính 11.6mm, cao 3.6mm
– Tình trạng: ngừng sản xuất

Dùng cho các máy: Asahi Pentax Spotmatic SP, SPII, SPIIa

Giải pháp thay thế:

1) Dùng pin Energizer E387S 1.55V
2) Các pin nói trên dùng được với Spotmatic vì các máy này có mạch cầu điều chỉnh điện thế, với các loại cũ hơn có thể có vấn đề.
3) Dùng bộ chuyển CRIS H-B và pin bạc 377. Bộ chuyển này có đi-ốt hạ điện thế, mặc dù với các máy Spotmatic là không cần thiết.
4) Các pin kẽm-khí (Zn/O²) có điện thế ổn định khi sử dụng nên có thể dùng được cho nhiều máy ảnh cổ. Điểm bất lợi là dòng pin này chỉ sống được vài tháng.


Pin PX-625 (tên khác: Eveready E625, ANSI 1123M, IBC MR9 PX13, EPX13, H-D, 1124MP, EPX625)
Thông số:

– Dung lượng: 1.35V, 450mAH
– Loại: Mercuric Oxide
– Kích thước: nặng 4.20g, đường kính 16.0mm, cao 6.2mm
– Tình trạng: ngừng sản xuất

Dùng cho các máy: Canon Canonet, Miranda Sensorex, Yashica Lynx 14, Yashica-Mat 124/124G

Giải pháp thay thế:

1) Nhiều máy có thể sử dụng trực tiếp pin PX-625A (còn gọi là Energizer E625G) 1.5V
2) Một số loại khác dùng PX-625A với cách hiệu chỉnh cho mạch đo sáng. Nếu khéo tay thì bạn cũng có thể tự làm.
3) Dùng pin kẽm-khí.
4) Dùng bộ chuyển và pin 386. Các bộ chuyển này có chứa đi-ốt để hạ dòng xuống điện thế yêu cầu.


Pin PX-640
Thông số:

– Dung lượng: 1.35V
– Loại: Mercuric Oxide
– Kích thước: nặng 7.94g, đường kính 15.9mm, cao 11.2mm
– Tình trạng: ngừng sản xuất

Dùng cho các máy: Minolta Hi-Matic, Yashica GX, Nikon F meter

Giải pháp thay thế:[INDENT]1) Máy Yashica GX có thể dùng pin SR44 1.5V có chèn thêm lá đồng
2) (có thể Hi-Matic cũng dùng được LR44)
3) Làm thiết bị chuyển theo hướng dẫn của Paul Birkeland-Green cho Nikon F meter. (paulbg com/Nikon_F_meter_batteries h t m)

Pin PX-675 (tên khác: EPX675, RPX675, KX675, HD675, MR44, H-C)
Thông số:

– Dung lượng: 1.35V, 210mAH
– Loại: Mercuric Oxide
– Kích thước: đường kính 11.6mm, cao 5.4mm
– Tình trạng: ngừng sản xuất

Dùng cho các máy: Petri Color 35, Konica T3, Konica Autoreflex A, Konica T2, Konica Auto S3

Giải pháp thay thế:

Một số máy có thể dùng pin SR55 1.5V có cùng chiều cao, nhưng đường kính bé hơn 1 chút.

 

nguồn: photoethnography. com/ClassicCameras/index-frameset html?batteries. h t m l~mainFrame
tác giả: Karen Nakamura
Ghi chú: các review của Karen Nakamura thường có tuyên bố cấm sao chép, tuy nhiên ở trang này không thấy tuyên bố bản quyền nên chắc là tham khảo được.


Hiệu sửa máy ảnh “cổ nhất” Hà Thành

Giữa không gian tấp nập của phố phường Hà Nội, có một hiệu sửa máy ảnh “cổ” khiêm nhường nằm nép mình trong con phố nhỏ Phùng Khắc Khoan. Ít ai biết rằng, cái hiệu sửa máy ảnh ấy đã có tuổi đời hàng thế kỷ và chủ nhân của nó là một người Hà Nội, yêu Hà Nội đến vô cùng.
hieu_sua_may_anh
Lần theo từng bậc cầu thang gỗ dốc đứng, khó khăn lắm tôi mới leo lên gác 2 của căn nhà. Ông Phượng, chủ nhân của ngôi nhà và cũng là thợ sửa máy ảnh lâu năm nhìn tôi cười hiền: “Ai đến đây lần đầu cũng thấy lạ lẫm thế, nhà cổ mà, nếu không quen, chắc không dám leo lên cầu thang nữa…”. Với giọng trầm ấm, lối trò chuyện rất duyên, ông Phượng kể cho tôi nghe về cái nghiệp sửa máy ảnh của mình.
Tính đến nay, gia đình ông đã có 4 đời sửa máy ảnh. Từ khi còn niên thiếu, ông đã quen với việc ngồi cạnh giúp bố nhặt những chiếc ốc vương vãi trên sàn. Nghề đã ngấm vào ông lúc nào không hay. Sau những ngày tháng chăm chú ngồi cạnh bố quan sát, năm 18 tuổi ông đã có thể tự tháo lắp và sửa chữa hoàn thiện một cái máy ảnh trong vòng nửa tiếng.
hieu_sua_may_anh_1
Cho đến tận bây giờ, ông không thể nhớ nổi mình đã từng sửa bao nhiêu máy cho bao nhiêu hành khách từ khắp miền Bắc, Trung, Nam, thậm chí có nhiều khách là người nước ngoài. Ông tâm sự, những năm 60 của thế kỷ 20, khi chiếc máy ảnh còn xa lạ với nhiều người dân, ông Phượng đã nhận sửa chữa rất nhiều máy ảnh, trong đó phần lớn là máy ảnh cổ, máy ảnh cơ quan trong của các cơ quan báo chí, an ninh, tình báo… Ngày đó, ông đã từng bỏ bữa trưa, quên ăn bữa tối để sửa cho bằng được những chiếc máy ảnh của anh em phóng viên, bè bạn ngay trong hầm trú ẩn. Với đồ nghề đơn giản: tuốc-nơ-vít, bút thử điện, đồng hồ điện, ông Phượng cùng những thành viên thuộc các thế hệ khác nhau trong gia đình mình đã làm nghề sửa chữa này suốt gần một thế kỷ qua. Ông bảo rằng: “Giản dị thế thôi, quan trọng là phải cẩn thận. Bên cạnh đó, muốn sửa được chiếc máy ảnh tốt, trước hết tôi phải rèn luyện tính kiên trì, tỉ mỉ và tinh thần ham học hỏi không ngừng sáng tạo. Bốn đời nhà tôi làm nghề sửa máy ảnh đều truyền lại cho con cháu điều cơ bản ấy ”. Cái nghề này cũng khá nguy hiểm, đèn flash có điện cao áp 350V, máy có điện áp 6V. Nếu không cẩn thận, điện ở đèn truyền sang người cũng làm ngã ngửa ra, hoặc phóng sang máy làm hỏng ngay lập tức. Trước khi sửa, phải kiểm tra, khử hết điện trong máy rồi mới làm gì thì làm. Ông Phượng tâm sự: “sửa máy ảnh uy tín mấy đời nhưng chúng tôi cũng vẫn phải bó tay trước ba tình huống: khi không có linh kiện thay thế, khi chiếc máy bị thợ trước hoặc chủ máy phá nát rồi hoặc giá sửa chữa cao quá 50% giá trị của chiếc máy. Chúng tôi lao động chân chính nên không tham của khách hàng”. Dù gắn bó với máy ảnh phim trong nhiều thập kỷ, nhưng bản thân ông Phượng cũng đã trở thành chuyên gia trong việc xử lý các loại máy ảnh số. “ Sửa chữa máy ảnh số thậm chí còn dễ hơn máy ảnh phim, vì các linh kiện thay thế có thể tìm kiếm dễ dàng. Còn máy phim nhiều khi không tìm được linh kiện thì đành chịu”.
“Là nghề cha truyền con nối nên tôi cũng cố gắng để các con mình theo nghiệp, không để thất truyền” – ông Phượng nói. Để con tiếp quản nghề gia truyền, ông Phượng đã nhìn xa trông rộng, hướng cho hai cậu con trai phải học thật tốt điện tử, vi tính và tiếng Anh. Anh Long con trai ông Phượng vui vẻ bảo: “ Đó là điều kiện của bố tôi để chúng tôi được theo nghề đấy. Trải qua 4 thế hệ sửa chữa máy ảnh, song điều đáng tự hào của gia đình là đều tự mày mò học nghề mà không hề qua trường lớp”. Mà quả thật, không tự hào sao được bởi đâu phải gia đình nào cũng có “bản sắc” như vậy!.
Trò chuyện thêm với ông Phượng, mới thấy, ông yêu nghề biết nhường nào. Ông bảo, khách đến đây đủ loại, chuyên nghiệp có, nghiệp dư có, Tây, ta đều có. Quan trọng nhất với người làm nghề này là chữ Tâm và phải rèn được tính tỷ mỉ, cẩn thận. “Mấy đời nhà tôi làm nghề sửa máy ảnh đều tâm niệm điều đó. Giờ đây, thời đại kỹ thuật số, khách hàng cũng đông hơn, rất nhiều người thợ không có Tâm, phá nát máy, thậm chí lấy giá cao hơn rất nhiều giá trị của chiếc máy. Nhưng với chúng tôi, uy tín được coi làm đầu”. Cũng có lẽ vì thế mà chẳng cần đến biển hiệu hay những lời quảng cáo màu mè, căn gác nhỏ nhà ông vẫn luôn được người ta “rỉ tai” nhau và tìm đến. Gắn bó với nghề nhiều năm, bản thân ông Phượng hiểu rõ, dù ở thời nào, máy phim hay máy kỹ thuật số, người thợ đều phải kiên trì, không ngừng học hỏi. Cũng bởi vậy, ông hướng cho các con ông học giỏi ngoại ngữ và điện tử. Giờ đây, các con ông đều là thợ giỏi, được rất nhiều người biết đến trên các diễn đàn nhiếp ảnh.
Gần 70 tuổi, có 50 năm trong nghề sửa chữa máy ảnh, với vô số những kỷ niệm vui buồn nhưng ông Phượng luôn cho rằng, yêu nghề và say nghề là yếu tố đầu tiên để sống được với nghề sửa chữa máy ảnh. Cứ nhìn cái cách ông tư vấn cho khách hàng thì biết. Mỗi khi có ai đó đến sửa máy, ông đều tư vấn tỷ mỷ cho họ cách sử dụng, cách bảo quản để máy được bền… Và cũng bởi lòng yêu nghề của ông mà cái căn gác chỉ vẻn vẹn chừng 20m2 ấy luôn là địa chỉ tin cậy của dân phó nháy Hà Thành suốt gần một thế kỷ qua.
Nghề sửa máy ảnh ở ngôi nhà số 15 Phùng Khắc Khoan có từ cách đây một thế kỷ. Công việc tại đây luôn quá tải bởi nhu cầu của người chơi ảnh không ngừng tăng.


Kiên trì và cẩn thận là hai nguyên tắc vàng của người thợ sửa chữa máy ảnh.


Hàng chục chiếc hộp phân loại những linh kiện máy ảnh khác nhau như lò xo nén, đo sáng, bộ nhại, bòng đèn flash, vi mạch điện tử… 


Các máy cơ khí như máy khoan, tiện, mài, hàn… cũng được sử dụng cho việc sửa chữa máy ảnh.


Một chiếc ống kính với những thấu kính bị mốc đang nằm trên “bàn mổ”.


Với mỗi người chơi ảnh, việc phải đem chiếc ống kính của mình đi lau vì bụi, mốc hầu như là không tránh khỏi.


Chiếc ống kính mốc này sẽ đẹp long lanh khi qua bàn tay của người thợ.

Ông Nguyễn văn Phượng đang căn chỉnh thước đo nét của ống kính. 


Bệnh thường gặp nhất với máy ảnh số là hỏng cửa trập, anh Nguyễn Ngọc Cường cho biết:

Không bị mai một như nhiều nghề gia truyền khác, nghề sửa chữa máy thích ứng tốt với thời đại số.


Một số cách chụp ảnh

1. Chụp ảnh ngoài trời với ánh sáng tự nhiên: Ánh sang tự nhiên là nguồn sang lý tưởng để chụp hình, nhiệt độ mầu phù hợp vớI phim phổ thong ddang dung nên luôn cho mầu đúng sắc độ. Tốc độ thường dùng: 30, 60 (trong bóng râm của trời không nắng, hoặc chiều tối). 125 (trong bóng râm của trời nắng) hoặc 250 của trời nắng nhẹ. Không nên chụp dưới trời nắng gắt, chụp như vậy ảnh thường không nổi hết các chi tiết của đối tượng chụp. Nguồn ánh sang này dễ sử dụng nhưng nếu không cẩn thận khi chụp sẽ có hiện tượng ảnh bị lu mờ (không trong), tựa như có lớp sương mỏng phủ lên ảnh, hiện tượng này ngườI ta gọI là bị “halo”. Để tránh hiện tượngnày nên chụp xuôi sáng, và sử dụng loa chống loá sáng, chụp hơi chúc máy xuống so với nguồn phát sáng .

2. Chụp ảnh ngoài trời phối hợp đèn flash: Đôi khi ta chụp ngườI đứng ngược vơí nguồn sang, Ví dụ chụp hình ngườI đứng ở giũa của, lựng quay ra ngoài sân, nếu không dùng đèn điện tử (flash) thì lúc đó hoặc là cảnh ngoài sân đúng sáng, mặt ngườI đen, hoặc là mặt ngườI đúng sáng còn cảnh ngoài sân lạI loá trắng do thừa sáng. Vậy để có búc ảnh mà cả 2 đốI tượng đó đều đúng sáng thì ta cần phốI hợp cùng lúc vớI đèn flash. Đầu tiên kiểm tra trên bảng hướng dẫn ở thân đèn xem vớI khoảng cách từ máy tớI ngườI được chụp thì cần mở ống kính là bao nhiêu, đặt cửa sáng ở dộ mở đó. Tiếp theo giữ nguyên cửa sáng, dùng đồng hồ đo sáng có trong máy rồI phốI hợp vớI tốc độ chụp để tìm ra vị trí đúng sáng cho đồng hồ đo đó (lưu ý, tốc độ máy phảI luôn nhỏ hơn tốc độ ăn đèn ghi trên máy), như vậy lúc này ta đã cân bằng được lượng sang giũa ánh sáng đèn điện tử và ánh sang trời. Ta cũng có thể phốI hợp tình huống này khi chụp ngườI ở trong phòng tốI để có thể kết hợp được cả những nguồn sang khác phát ra từ các bong đèn trong phòng. VớI những máy tự động (trừ máy du lịch) thì chỉ việc đặt cả máy và đèn chụp ở chế độ TTL là được.

3. Kỹ thuật chụp lia máy (Panning)

Chủ đề trong bức ảnh của cách chụp này bao giờ cũng nổi bật ra khỏi phông nền vì nền phông phía sau luôn mờ nhoè, do vậy nội dung bức ảnh tập trung và cô đọng hơn. Mặt khác nền phông phía sau nhoè theo vệt nên nó tạo cho ta cảm giác là vật được chụp đang di chuyển với tốc độ cao. Đối tượng được chụp thường đang ở trong trạng thái chuyển động như người đi bộ, chạy, xe đạp, xe máy… đang đi…Thường có 2 trường hợp xảy ra trong cách chụp này.

a. Người chụp đứng yên tại chỗ còn đối tượng được chụp đang di chuyển. Trường hợp này tốc độ chụp nên chọn là: 8 dùng cho người đi bộ (chụp những bà gánh hàng rong đang hốI hả vì sợ muộn buổI chợ sớm…), 16 cho người chạy và xe đạp đang đi, 30 cho xe máy đang chuyển động.
b. Cả người chụp và đối tượng được chụp đều di chuyển như cùng ngồi trên 2 xe máy di chuyển cùng chiều. trong hoàn cảnh này cố gắng giữ đồng tốc giữa 2 xe, tốc độ chụp từ 30 đến 120.

Trong cả 2 trường hợp trên tốc độ chụp có thể dùng cao hơn nữa vẫn chụp được nhưng hiệu quả không cao, phông mờ nhoè ít. VớI lốI chụp này nên chọn tốc độ càng chậm càng tốt, ảnh càng đẹp hơn. Tốc độ chậm có khả năng gây mất nét nên để giảm bớt tình trạng này khi chụp nên chọn tiêu cự ngắn nghĩa là dùng ống kính góc rộng. Khi dùng tiêu cự này thì độ nét sâu của ảnh lớn, giảm bớt tình trạng mất nét khi chụp, đồng thờI cho phép ta dễ dàng nớI lỏng bố cục. Do phần vì đốI tượng chụp đang chuyển động dẫn đến khó bố cục chính xác, phần do đạI đa số máy ảnh đều có điểm ngắm nét nằm vào giữa khung hình nên chủ đề của bức ảnh chụp kiểu này thường nằm vào chính giữa, do vậy sau khi chụp xong thường phảI cắt cúp lạI ảnh, để cắt cúp được đẹp thì ngay khi chụp nên tạo sẵn khoảng trống trong bức ảnh đó, nghĩa là không nên bố cục chặt quá mà nớI lỏng ra 1 chút.

Nếu chụp vớI máy cơ thì nên xác định trước điểm chụp, ngắm vào đó lấy nét thờI chụp, bố cục rồI hướng máy về phía đốI tượng chụp đồng thờI rê máy theo đốI tượng đó cho tớI khi di chuyển đến điểm dịnh chụp (đã xác định trước) thì bấm chụp. ĐốI vớI các máy tự động lấy nét như Nikon f801, F90, F80….thì chuyển phần lấy nét về ký hiệu C (continue- luôn tự dộng lấy nét khi vật di chuyển). Lưu ý luôn luôn rê máy ngay cả khi đang bấm

4. Kỹ thuạt chụp đêm và chụp pháo hoa

a. Chụp đêm
Ánh sáng, mầu sắc của bóng đèn phản chiếu trên nền trời đêm thật lung linh huyền ảo, ai đã 1 lần cầm máy thì thể nào cũng có 1 lần thử chụp đêm. Thời điểm để chụp cảnh đêm đẹp nhất là lúc chạng vạng tối, khi ấy nền trời còn phảng phất 1 mầu xanh dịu, nhẹ khiến cho cây cối, hình khối nhà cửa vẫn in trên nền trời khiến cho bố cục thêm sinh động. Trong lúc đó thì ánh điện đường hay ánh đèn từ những ô cửa sổ cũng vừa được thắp lên tạo cho không gian bức ảnh 1 luồng sáng đều, không bị chỗ tối quá hay sáng quá, những vệt sáng vàng hay đỏ phát ra từ đèn ôtô, xe máy tạo nên những nét vẽ mềm mại, uyển chuyển, uốn lượn như muốn ôm lấy cả khung hình. Với thời khắc này thì hình ảnh thu vào khung hình thường rộng, dễ bố cục. nếu chụp lúc đêm xuống hoàn toàn thì nên bố cục “chặt” vì nếu lấy rộng ra sẽ có quá nhiều khỏang đen chiếm trong khung hình… Khi chụp đêm, ánh sáng phát ra từ những điểm sáng như đèn đường… thường có hình tia sao. Để những tia sao này càng dài thì ta cần phải khép chặt ống kính, thông thường tôi dùng f 8 hoặc 11. Càng khép chặt thì tốc độ càng chậm nên để tránh bị nhòe cần phải có chân máy và dây bấm mềm. (cách khác để có hình tia sao là lắp thêm kính lọc tia sao ở trước ống kính)
Việc chụp đêm với những máy tự động đo sáng thì rất đơn giản, chỉ việc kê chắc máy, lấy nét và bố cục rồi bấm là máy sẽ tự đo sáng cho chụp (những máy này tốc đọ chậm nhất trước B là 30s), riêng máy tự động loại du lịch thì không chụp đêm được vì lúc giơ máy lên đo sáng chụp máy sẽ tự động bật đèn điện tử (flash) và như vạy thì không thể chup được. Chụp bằng máy cơ thì hơi phức tạp hơn 1 chút, đòi hỏi người chụp phải biết chút ít về mối tương tác giữa 3 yếu tố: tốc độ chụp, cửa điều sáng và độ nhậy bắt sáng của phim (xem phần này ở bài “trở lại bài ABC về nhiếp ảnh”) . Khi chụp bằng máy cơ khi đưa máy lên đo sáng thì máy luôn báo “âm”, thiếu sáng không thể nào đo được cho đủ sáng. Lúc này thay vì để độ nhạy của phim ở giá trị phim đang sử dụng (ví dụ phim đang dùng là 100 ASA) thì ta thay đổi vòng điều chỉnh độ nhạy bắt sáng của phim theo chiều tăng cho tới khi nào đồng hồ đo sáng báo đủ sáng thì thôi, ví dụ lúc này là: độ nhạy bắt sáng = 800 Asa, tốc độ chụp 1/4, của mở sáng là 11. Theo như trên nói để có tia sáng hình sao ta giữ nguyên cử điều sáng ở f 11, như vậy chỉ còn 2 yếu tố thay đổi là Asa và tốc độ chụp mà 2 yếu tố này lại tỷ lệ nghịch với nhau, nghĩa là cứ tăng 1 khoảng giá trị ở yếu tố này thì sẽ giảm đỉ 1 khoảng y như thế ở yếu tố kia. Do vậy để giảm từ 800 Asa xuống 100 Asa cho đúng với giá trị thực tế của phim đang chụp thì ta sẽ phải giảm xuống 3 nấc (800, 400, 200, 100), đồng thời tăng 3 nấc cho tốc độ chụp từ 1/4 lúc này sẽ là (1/4, 1/2, 1s, 2s). Nghĩa là ta sẽ chụp ở tốc độ 2s, cửa mở sáng 11, phim 100 Asa. Có những trường hợp tốc độ chụp rất chậm xuống đến 8 hay 10s, lúc này trên vòng tốc độ sẽ không có những giá trị đó, khi chụp trong hoàn cảnh này ta đặt máy ở chế độ B và dùng dây bấm mềm để chụp. Tốc độ B là tốc độ cho ta bấm và giữ của mở sáng lâu bao nhiêu tùy ý, khi nào muốn đóng cửa sáng lại thì thả tay giữ nút bấm ra là cửa sáng đóng, do quá trình giữu nút bấm lâu như vậy nên ta cần phải dùng đến dây bấm mềm để tránh làm rung động máy. Vì những giá trị như 8 hay 10s không có trên thang chia của máy nên khi dùng ở tốc độ này ta nên có đồng hồ đeo tay để đo hoặc có thể ước lượng bằng cách đếm tù 1 đến 10 theo nhịp chạy của đồng hồ, giả sử có đếm quá lên chút ít cũng không sao vì cảnh đêm ánh sáng thường yếu không ảnh hưởng nhiều lắm khi ta chụp quá sáng.

b. Chụp pháo hoa thực ra chính là 1 phần của chụp đêm, nên cũng luôn cần chân máy và dây bấm mềm. Chụp pháo hoa khác với chụp đêm 1 chút ở thời điểm bấm máy. Nên cố gắng chụp pháo hoa ở ngay những quả bắn đầu tiên vì lúc này do mới bắn lên nên nền trời không có nhiều khói khiến cho bức ảnh trong hơn, còn giả sau này thì trời sẽ vẩn đục, ngả màu xám do bị khói quẩn in vào, nhất là hôm đó lại không có gió thì khói sẽ che mất pháo hoa.
Nếu chỉ chụp pháo hoa không mà không có cảnh phía dưới (chụp sau này để ghép sau) thì máy cơ không phải tính toán lằng nhằng như trên mà cứ giơ lên để tốc độ chụp ở B là sẽ được pháo hoa.

Nếu chụp cả cảnh ở phía dưới thì máy cơ vẫn phải tính toán như trên để có được hình ảnh đúng sáng cho phần cảnh phía dưới. Tuy nhiên khi chụp lại không bấm chụp đủ ngay thời gian chụp như ở phần chụp đêm, mà chỉ chụp 1 nửa thời gian đó, phần nửa còn lại sẽ chờ khi pháo hoa bắn lên thì chụp nốt, như vậy ảnh mới không bị quá sáng.

Cả máy cơ và máy tự động đo sáng (trừ máy du lịch) khi chụp pháo hoa đều nên sử dụng tốc độ B, với tốc độ này cho phép ta lựa chọn quả nào thích thì lấy, quả nào không thích thì thôi. Thế nào là lựa chọn, ví dụ như khi bắn vào dịp năm mới 2003 thì thế nào trên nền trời cũng sẽ có chữ 2003, vậy ta phải làm sao chỉ có chữ 2003 lọt vào mà không bị các bông khác lấn át Đây chỉ là 1 mẹo nhỏ rút ra trong quá trình chụp xin phổ biến lại cho các bạn. Trước khi chụp ngoài dây bấm mềm nên chuản bị sẵn 1 miếng vải mềm, dầy mầu sẫm, tốt nhất mầu đen hay tiện hơn cả là 1 chiếc mũ nồi mầu tối, vừa tránh sương gió đêm 30, vừa dùng luôn để chụp. Máy kê chắc chắn trên chân chụp, lắp dây bấm mềm, tháo bỏ nắp ống kính hướng đến nơi cần chụp, lấy bố cục, đặt nét ở vạch vô cực, cửa sáng để 8 rồi chụp mũ nồi lên ống kính, lúc này mũ nồi có nhiệm vụ thay nắp ống kính, bấm dây bấm mềm để chụp rồi giữ ngay lấy nó, nghĩa là lúc này máy đang ở chế độ chụp, màng chụp vẫn đang mở nhưng do có mũ nồi che ở ngoài nên không có hình ảnh nào lọt được vào phim. Ngồi đợi khi nào pháo hoa bắn lên nếu thấy ưng quả nào thì nhấc mũ nồi ra, lúc đó mới có hình ảnh ghi lên phim, khi nào thấy đủ không chụp nữa thì bấm thả dây bấm mềm để kết thúc bức ảnh đó. Cứ kiên trì chọn lựa như vậy ta sẽ loại được những quả xấu ra khỏi khung hình, ảnh chụp ra sẽ đẹp hơn, không bị rối rắm do có nhiều pháo hoa chồng chéo lên nhau. Tại sao không dùng ngay nắp ống kính để đậy mà lại dùng vải mềm vì nếu dùng nắp ống kính thì mỗi khi đậy nắp ống kính sẽ rất có thể ta làm rung máy và như vậy ảnh hưởng tới các chi tiết khác làm nó nhoè trong trường hợp ta chụp cả pháo hoa và cảnh ở phía dưới.


Máy ảnh cơ

Máy ảnh (chụp phim) là loại máy chụp hình ảnh dùng phim âm bản đã có nguồn gốc từ cuối thế kỷ 11. Nó còn thô sơ cho phép in ra giấy những hình ảnh. Sau vài khâu xử lý sẽ nhận được hình ảnh chính xác của vật chụp, được gọi là buồng tối (camera).

Lịch sử

  • Năm 1568, ông Danielo Barbaro đã chế ra chiếc máy ảnh có thể thay đổi đường kính để tăng độ nét của ảnh.
  • Năm 1802, ông Toms Erdward và ông Gamphri Devid bằng cách in tiếp xúc đã cho ra ảnh trên một loại giấy đặc biệt (tuy nhiên những ảnh này không bền).
  • Năm 1816, ông Zozep Nips đã sáng chế ra một chiếc máy ảnh kiểu hộp cho phép thu được ảnh âm bản.
  • Năm 1835, ông William Tabot là người đầu tiên đã cho ảnh dương bản từ âm bản và những bức ảnh này rất nét.
  • Năm 1839, ông Luis Dage công bố phát minh quá trình định vị ảnh trên các miếng bạc. Từ đó, về sau rất nhiều người bỏ công sức ra cải tiến để hoàn thiện chiếc máy ảnh.

Nguyên lý

  • Chiếc máy ảnh (chụp phim) không ngừng được cải tiến theo chiều hướng gọn nhỏ thuận tiện và đẹp hơn, nhưng về cấu tạo đều phải có các bộ phận sau: Buồng tối máy ảnh; Ống kính máy ảnh; Tốc độ chớp (màn chập); Khẩu quang (cửa điều sáng). Khi kết hợp với phim và nguồn sáng nó sẽ cho ra những tấm ảnh như ý.
  • Muốn có một bức ảnh phải có nguồn sáng, nguồn sáng là yếu tố chính. Độ nhạy của phim (DIN,ASA) kết hợp với nguồn sáng qua hai bộ phận là tốc độ chớp và khẩu quang bắt hình ảnh vào phim (bản âm), qua khâu in phóng thành tấm ảnh (bản dương). Vì vậy, các yếu tố trên phải được kết hợp đúng với nhau mới cho ra những tấm ảnh đẹp (đúng sáng).
  • Thông số độ nhạy bắt sáng của phim là một định chuẩn, được tiêu chuẩn hoá theo máy đo sáng (MĐS) kết hợp với cửa điều sáng và tốc độ chớp (cũng được tiêu chuẩn hóa) đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật. Đó là nguyên lý chung mà hiện nay dù máy ảnh (dùng phim) có tốt đến đâu, có tối tân hiện đại mấy vẫn phải lấy nguyên lý này làm nền tảng.

Cấu tạo

  • Buồng tối máy ảnh. Nằm trong thân máy là một hộp đựng phim tuyệt đối kín, phim chụp là chất bắt nhạy ánh sáng. Vì thế, buồng tối máy ảnh phải thật kín. Có trục kéo, trục cuốn phim vận hành bằng tay (máy cơ học), bằng mô tơ (máy điện tử).
  • Ống kính máy ảnh. Là vật chủ yếu để ghi nhận ảnh, định vị khoảng cách, sửa sai độ méo hình, chống loé sáng (halô). Có rất nhiều kiểu ống kính khác nhau để đáp ứng nhu cầu của người cầm máy.
  • Tốc độ(Temps de poses). Là thang số mở khép của màn chập nhanh chậm theo thời gian đã được quy chuẩn sẵn được cấu tạo bởi các lực của đòn bẩy, tay đẩy thông qua lò xo hoặc dơle (B,1,2,4,8,15,30,60,125,250,500,1000,2000/giây).
  • Khẩu quang (dia phram). Bộ phận này gồm các lá thép mỏng, mở ra khép lại theo thang số. Tuỳ theo quang độ của ống kính. Số nhỏ là số mở lớn, số lớn là độ khép nhỏ (F:1; 1,4; 2; 2,8; 4; 5,6; 8; 11; 16; 22). Cũng có loại khẩu quang (cửa điều sáng) là những lỗ to nhỏ cố định trên một lá kim loại đục sẵn, hoặc chỉ đơn giản là một cửa lọt sáng cố định. Khẩu quang khép càng nhỏ thì sự rõ nét trên ảnh càng kéo dài ra. Ngược lại, khẩu quang càng mở lớn thì sự rõ nét trong ảnh càng cạn.
  • Phim. Có loại phim trắng đen và có loại phim màu, có nhiều kích cỡ khác nhau nhưng thông dụng nhất là phim cỡ 35mm. Độ nhạy được quy chuẩn theo hai hệ DIN và ASA. Phim màu bán đảo âm (hay phim âm bản) gồm nhiều lớp tráng trên mặt nhựa (đế phim). 1, Lớp bắt nhạy màu lam; 2, Lớp Gélatine lọc màu vàng; 3, Lớp bắt nhạy màu lục; 4, Lớp bắt nhạy màu đỏ; 5, Chất trụ của phim; 6, Lớp chống loé.
  • Các nhà sản xuất đã cho ra đời rất nhiều loại máy ảnh. Nhưng thực ra cũng chỉ có hai dòng chính là máy chụp với các kỹ thuật (Khẩu quang, Tốc độ, tiêu cự) đã được điều chỉnh tự động, thường gọi là máy điện tử, được dùng rộng dãi trong những người cầm máy không chuyên. Họ chỉ cần lấy khuân hình cân đối và bấm máy là đã được những bức ảnh tương đối đẹp. Còn dòng máy cơ là máy điều chỉnh {Tiêu cự (độ nét), Cửa điều sáng, Tốc độ chớp} bằng tay. Nên đòi hỏi người cầm máy phải có kiến thức về kỹ thuật chụp ảnh và phải có kinh nghiệm nhất định. Nó cho phép người ta chụp được những tấm ảnh như ý. Máy cơ cũng có loại thiết kế vừa điều chỉnh được vừa tự động để người dùng thuận tiện hơn

Kỹ thuật chụp ảnh bằng máy cơ

Máy ảnh cơ cho phép người ta điều chỉnh linh hoạt để chụp được những tấm hình có tính nghệ thuật. Có hai nguyên tắc cơ bản sau:

  • Chọn tốc độ chớp làm yếu tố chính. Khi chụp đối tượng chuyển động tương đối nhanh, muốn chụp được hình ảnh rõ nét (không bị nhòe), phải chọn tốc độ chớp làm yếu tố chính. Sau đó điều chỉnh khẩu quang cho phù hợp với lượng phơi sáng đã đo được của phim. Lượng sáng càng mạnh, độ nhạy của phim càng cao thì cho phép tốc độ chụp càng lớn mà khẩu quang lại không cần mở to (sẽ cho ra những bức ảnh có độ nét sâu). Khi đối tượng chuyển động càng nhanh thì đòi hỏi tốc độ chớp cũng phải nhanh.
  • Chọn cửa điều sáng là yếu tố chính. Thường được áp dụng với một trong ba điều kiện là: 1; Khi chụp ảnh bằng đèn plash. 2; Khi vật thể ở trạng thái tĩnh, có thể bắt đứng hình ảnh của nó trong bất cứ điều kiện tốc độ chớp như thế nào. 3; Có yêu cầu về độ sắc nét rõ ràng, từng vùng hay phạm vi của đối tượng. {Chụp phong cảnh cần nét sâu từ gần đến xa (Trường hợp này khẩu quang càng khép được nhỏ càng tốt còn tốc độ chớp chỉ điều chỉnh cho lượng phơi phim đúng sáng), chụp chân dung cần đặc tả đôi mắt hoặc tả bộ mặt còn phía sau và phía trước cần nhoè đi (Trường hợp này khẩu quang nên mở hết cỡ có thể, rồi điều chỉnh tốc độ chụp cho lượng phơi phim đúng sáng)}.
  • Luật cân bằng quy định giữa tốc độ và khẩu quang như sau: Mở lớn một nấc khẩu quang thì phải tăng cao một tốc độ chớp – Khép nhỏ một nấc khẩu quang thì phải hạ xuống một tốc độ chụp.

Cách chọn mua Body và lens cũ cho máy DSLR

* Với body: Các bác xem hình thức body còn mới không, có chỗ nào bị móp hay trầy xước nặng không. Nếu móp thì chắc đã bị rơi hay va đập mạnh, mà máy ảnh bị thế này thì tốt nhất không nên lấy. Các bác để ý xem dưới đít body, chỗ cài chân máy (tripod) và chỗ cài đèn Flash có bị xước nhiều không, nếu xước nhiều thì cũng nên cân nhắc vì có thể máy dùng đã lâu và quan trọng nhất (cái này tùy theo nhu cầu của các bác thôi) là các bác có dự định nâng cấp không, nếu có thì bị như vậy sau này sẽ khó bán, chưa kể đến quá trình dùng các bác giữ gìn máy như thế nào. Ngoài ra, các bác xem phần bên phải body (chỗ cầm tay vào để chụp ấy), nếu nó đã bóng nhẫy hoặc bị tróc lớp da sần hay lớp ma sát thì chắc chắn máy đã được dùng rất nhiều, cũng nên cân nhắc.

* Với lens: Quan trọng nhất các bác để ý xem kính trước và kính sau còn trong không, nhìn thật kỹ xem có vết xước, chấm bụi hay mốc không. Các bác nên mua lens sau khi đã mua body, vì như vậy thì các bác mới thử được lens. Các bác cắm len vào body, thử các chế độ AF,MF(Focus), xoay vòng Focus, vòng Zoom xem có trơn tru, hoạt động tốt không. Các bác thử hướng lens ra chỗ nào thật tối rồi chụp, sau đấy các bác view ảnh trên LCD của máy, zoom to lên và xem kỹ từng chỗ xem có thấy chấm trắng hay đốm màu, cách này khá hữu hiệu để kiểm tra bụi và mốc trong ống kính. Sau đấy, hình thức của lens cũng khá quan trọng, cái này thì không biết với các bác khác có như vậy không, chứ với em thì nhìn 1 cái lens mà vỏ ngoài cũ, xước quá thì dù kính có trong em cũng không cảm tình mấy.


Bokeh là gì

What is Bokeh?

Bokeh mô tả sự biểu hiện của các điểm out nét của ánh sáng.

Bokeh khác với độ sắc nét. Độ sắc nét xảy ra tại điểm focus tốt nhất. Bokeh là những gì sẽ xảy ra ngoài các điểm focus tốt nhất đó.

Bokeh mô tả sự xuất hiện, hoặc “cảm nhận”, của vùng out nét. Bokeh không phải là một cái gì đó xa bao nhiêu ngoài nét, bokeh chính là đặc điểm của bất cứ thứ mờ ảo gì ở đó.

Thật không may bokeh tốt không sinh ra tự động trong thiết kế ống kính. Những’ ống kính hoàn hảo làm cho các điểm out nét của ánh sáng trông giống như hình tròn với các cạnh sắc nét. Bokeh lý tưởng sẽ làm cho từng điểm như mờ đi, không phải những tròn sắc cạnh. Các nhà toán học có thể nói sự phân bố cường độ của các hình tròn mờ là hình chữ nhật trong ống kính hoàn hảo, và bokeh tốt có thế tốt hơn phân bố Gauss. Đây là lĩnh vực mà vật lý không phản ánh những gì chúng ta muốn một cách có mỹ thuật.

Những sai khác của quang sai cầu thay đổi theo cách ống kính render các điểm sáng out nét, và dĩ nhiên cả bokeh của chúng. Từ “bokeh” xuất phát từ từ tiếng Nhật “boke” (phát âm bo-keh) có nghĩa đen là hơi say hoặc chóng mặt.

Một ống kính hoàn hảo theo kỹ thuật phải không có quang sai cầu. Do đó, ống kính hoàn hảo focus tất cả các điểm sáng thành những hình nón sáng sau ống kính. Hình ảnh trong focus nếu phim ở chính xác chỗ hình nón đạt điểm tốt nhất của nó. Ống kính càng tốt thì các điểm này càng nhỏ.

Nếu phim không ở chính xác chỗ nón sáng đạt điểm nhỏ nhất thì điểm đó của ảnh chưa tập trung. Rồi các điểm đó được render trên phim như một đĩa sáng, thay vì là một điểm. Đĩa này được gọi là “blur circle” – “hình tròn mờ” or “circle of confusion” – “hình tròn mơ hồ” bằng biểu đồ tính toán DOF (Depth-Of-Field). Trong ống kính không có quang sai cầu, blur circle này là đĩa được chiếu sáng đều. Tất cả các điểm out nét trông giống như chiếc đĩa hoàn hảo với cạnh sắc nét. (Ở khẩu độ nhỏ hơn mà hình ảnh ở trong focus cực tốt bạn có thể thấy các vòng hư ảo xung quanh hình tròn, nhưng đó là sự nhiễu xạ, chúng ta không bàn đến ở đây) Đây chưa phải tối ưu cho boke, vì như bạn có thể tưởng tượng các cạnh sắc nét của các đĩa này có thể bắt đầu tạo sự rõ nét cho các vật được cho là trong vùng out nét.

Không có thấu kính nào hoàn hảo, vì vậy người ta thường không nhìn thấy các đĩa hoàn hảo.

Ống kính thực luôn có độ quang sai cầu. Điều này nghĩa là, trong thực tế, mặc dù tất cả ánh sáng đi qua lens từ một điểm trên vật thể có thể gặp nhau tại một điểm nhỏ, đẹp trên phim, do đó, sự phân bố ánh sáng trong chính hình nón có thể không đồng đều. Vâng, chúng ta nhận ra sự trừu tượng ở đây, đó là lí do tại sao vài nhiếp ảnh gia chậm chạp không chịu hiểu về Bokeh.

Minh hoạ

Bad Bokeh

Example of Bad Bokeh. Những điểm mờ của cành cây vẫn có cạnh sắc nét. Bokeh tốt sẽ cho ta điểm mờ có cạnh mềm mại.

Quang sai cầu nghĩa là các đĩa được tạo ra bởi các điểm out nét trên vật thể sẽ được chiếu sáng không đều. Thay vào đó chúng có xu hướng thu thêm ánh sáng vào phần giữa của đĩa hoặc hướng ra phần cạnh. Đây là một số ví dụ:

bad bokeh © KenRockwell.com
Fig. 1. Poor Bokeh. Đây là blur circle đã được phóng đại cho thấy bokeh tồi. Một blur circle phải làm sao cho điềm sáng out nét được render. Lưu ý cạnh được xác định sắc nét và rõ đều thế nào cho điểm có mục đích out nét, và tâm lại mờ.
neutral bokeh © KenRockwell.com
Fig 2. Neutral Bokeh. Đây là blur circle sáng đều và hoàn hảo về kĩ thuật. Điều này không hẳn tốt cho bokeh, bởi vì cạnh vẫn xác định được. Các đối tượng out nét, dù là điểm sáng hay đường sáng, có thể tạo ra một cách hiệu quả các đường sắc nét hợp lý trong ảnh do các cạnh của blur circle sắc nét. Đây là blur circle từ lens hiện đại nhất được thiết kế gọi là “perfect”.
good bokeh © KenRockwell.com
Fig. 3. Good Bokeh. Đây là thứ ta mong muốn. Điều này tuyệt vời cho bokeh vì cạnh hoàn toàn không xác định. Đây cũng là kết quả của cùng quang sai cầu, nhưng theo hướng ngược lại đối với ví dụ bokeh tồi trong Fig. 1. Đây là chỗ mà nghệ thuật và kỹ thuật bắt đầu phân tách, Khi bức hình nhìn tốt hơn lại là kết quả của sự không hoàn hảo. Bokeh hoàn hảo đòi hỏi phân bó hình trong mờ Gausian, và ống kính được thiết kế cho ví dụ trung tính như trong Fig. 2 phía trên.

Theo như bạn có thế hiểu, nếu ánh sáng có xu hướng tụ vào giữa đĩa out nét trên một mặt của hình nón, thì nó sẽ tụ lại trên phần ngoài của đĩa trên mặt kia của nón. Dưới độ quang sai cầu đúng sẽ gây ra ánh sáng tụ theo một cách, quá độ quang sai cầu đúng thì gây ra ánh sáng tụ theo cách khác. Do đó, ống kính với bokeh tuyệt vời cho phông nền có bokeh kinh khủng cho cận cảnh, và ngược lại.

Mọi thứ lạ kỳ từ đây. Một yếu tố lớn khác là làm thế nào để bên ngoài của blur circle được render. Dẫu cho chúng ta có ký hiệu nghèo như ở hình 1, nếu viền ngoài được render nhẹ nhàng, như trong máy AF-S Nikkor 80-200 f/2.8, chúng ta sẽ có bokeh tốt.

Một cách nghệ thuật, nhiều người hướng đến thích cận cảnh sắc nét và hậu cảnh mờ nhẹ. Cận cảnh mờ ảo có xu hướng làm người ta rối trí, và hậu cảnh mờ ảo thì không sao. Do đó, tôi phân loại ống kính với bokeh tốt như là chúng với bokeh hậu cảnh tốt. Theo cá nhân, tôi tránh bất cứ thứ gì mờ ảo trong cận cảnh bằng cách di chuyển camera hoặc đối tượng cận cảnh.

Lí do mà bokeh được thoả luận trong nhiếp ảnh là vì chúng ta thích vùng out nét nhẹ nhàng hơn là rõ nét, điều đó dường như được sắp đặt, mặc dù mọi thứ out nét. Vì điều này, nó thích hợp hơn với những người muốn cùng out nét nhẹ nhàng có sự phân bố ánh sáng trong từng blur circle được tập trung thêm về phần trung tâm. Điều đó làm mỗi blur circle có xu hướng là một điểm sáng được làm mở dần về phía cạnh. Điều này làm tất cả các blur circle pha trộn độc đáo.

Mặt khác, nếu người ta cố gắng giữ mọi thứ sắc nét nhất có thể, hiệu ứng bokeh sẽ hoạt động khác đi ở chỗ hình ảnh của bạn gần với trong tầm focus. Nếu nghi ngờ, hãy thử xem. Ống kính phác hoạ rất nhanh trở nên rất lạ.

Không có thước đo cho bokeh, vì các nhà khoa học nhắm đến ví dụ tầm thường ở hình 2 như ống kính hoàn hảo của họ. Giống như mọi thứ khác trong nghệ thuật, bạn đánh giá bokeh bằng cách nhìn vào ảnh.

How to See Bokeh

In Existing Images

Look for points of light in the background. Perfect subjects for this are distant points of light at night or sometimes light shining through leaves or specular reflections in daylight.

If they all blend together nicely, that’s nice bokeh. If they are perfect little circles, then that’s neutral bokeh. If they are all swimmy and look little little rolled up condoms or donuts, then that’s bad bokeh.

If they all are regular polygons that tells you the shape of the lens diaphragm. Yes, you can actually tell how many blades the lens’s diaphragm had!

If they are perfectly round in the middle of the image and oval or lentil shaped at the sides that tells you the image was probably shot at full aperture.

If they are all flattened ellipsoids (vertical ovals about twice as tall as they are wide) then that tells you that the image was shot with an anamorphic lens. You’ll see this in cinemascope motion pictures, not in still photographs.

In Your Lens

Find a point of light in the distance. You can do this easily at night by finding a distant point streetlight, or you can do it indoors by taking the reflector off of a Mag-Light flashlight and just setting it up on the other side of the room.

Now look at the ground glass as you focus. If you see perfect round disks your lens has neutral bokeh, if you see soft-edged shapes you have good bokeh, and if you see doughnuts you have bad bokeh.

If you see something other than neutral bokeh you’ll see the quality of the bokeh change as you focus both in front of and in back of the point of light. Of course you can’t usually focus beyond a distant point of light, unless you have a view camera or a lens that allows focusing beyond infinity.

Examples

This is tough, since I don’t really have any glaringly bad or good images to show, and I won’t copy other’s work to show you.

For bad bokeh have a look at the July 2004 Fuji flyer that has green squares on the cover that says “In the Right Hands, Technology can be a Beautiful Thing.” Inside the cover there’s a great shot of an Indian playing a flute in Zion by Tim Meyer. See how the little bright dots from all the leaves in the background get busy and almost look like little rolled condoms? That’s an example of the bad kind of bokeh. Yes, technical items have little to do with how good a shot is, and yes, for all we know this is exactly the look Tim wanted. Just know that you have control over this part of the look of the image based on your choice of lenses.

© 2008 KenRockwell.com. All rights treserved.


Làm mờ phông bằng PS

Việc làm mờ phần hậu cảnh mục đích nhằm làm nổi bậc đối tượng mà mình muốn. Trong ảnh số có những khi bức ảnh mình chụp lại vô tình có những phần hậu cảnh mà mình không hề muốn nó xuất hiện trong ảnh của mình, vì thế, biện pháp tốt nhất là làm mờ chúng. Bài viết này sẽ hướng dẫn chi tiết cho các bạn, chúng ta sẽ lấy ảnh 2 chú hươu cao cổ dưới đây làm mẫu, ta sẽ làm cho chú hươu đứng sau mờ đi.

Click here to enlarge

Đầu tiên hãy khởi động Photoshop CS, sau đó bấm Ctrl – O để mở file ảnh mà bạn cần chỉnh sửa.

Tiếp theo, trong hộp thọai layer bấm phải chuột vào layer hiện hành chọn Duplicate Layer:

Click here to enlarge

Hộp thoại Duplicate Layer xuất hiện, bạn bấm OK.

Tiếp theo vào menu Filter\Blur\Gaussian Blur.

Hộp thoại Gaussian Blur xuất hiện bạn chọn Radius là 3.5 piexls, sau đó bấm OK, bạn có thể hay thông số này bằng một thông số khác tùy bạn.

Click here to enlarge
Bây giờ bạn nhìn ảnh bạn thấy nó đã mờ rồi đó, bạn hốt hoảng ư? Tấm ảnh của mình bi giờ sao mờ thế nhưng khoan đã, mình chưa làm xong mà.^^

Tiếp theo hãy dùng công cụClick here to enlarge
để bôi, bạn chọn thông số như hình:

Click here to enlarge
Bạn bôi lên ảnh sẽ thấy chú hươu dần dần hiện ra, nhớ bôi khéo léo một chú, bạn có thể dùng đầu brush nhỏ hơn cho chắc ăn.

Click here to enlarge
Ở phần khác bạn hãy chọn brush lớn hơn, ở đây tui chọn brush 126.

Click here to enlarge
Sau đó bôi tiếp ở phần cỏ, đừng bôi lố sang phần của chú hươu ở sau nhé.

Click here to enlarge
Sau khi đã xong xuôi bạn sẽ được như hình dưới đây, bạn bấm Ctrl-S để Save ảnh hình làm lại.

Click here to enlarge

Cách 2:

Trong chụp ảnh chân dung thì một điều mà các tay máy luôn hướng tới đó là làm nổi bật chủ thể và xoá phông, càng mạnh tay càng tốt (tất nhiên là trong 1 số trường hợp hậu cảnh đẹp quá ta muốn lấy luôn vào trong bức ảnh thì lại khác). Kỹ thuật chính để làm việt này là mở khẩu thật to để lấy DOF mỏng, hoặc tiến lại gần chủ thể.

Tuy nhiên không phải ai cũng có đủ xèng để đầu tư một con lens thật chiến chuyên chụp chân dung, và với dân nghiệp dư hay nhà nghèo xài PnS thì lại càng ko thể. Để “khắc phục hoàn cảnh”, “vượt lên số phận” (cái này hay gọi vui là “trình còi nhưng thích đua đòi”), dùng PS là một trong những biện pháp rẻ tiền nhất (theo nghĩa đen nhá) và khá hiệu quả để tạo được hiệu ứng “xoá phông” gần giống như khi xài DSLR + lens xịn.

Kỹ thuật làm mờ hậu cảnh cơ bản thì khá đơn giản, dùng selection tool phù hợp chọn toàn bộ hậu cảnh, rồi Filter/Gaussian Blur, chọn radius thích hợp, OK, thế là hậu cảnh đã mờ. Tuy nhiên thực hiện theo cách này cho kết quả hơi “giả” và dễ bị lộ. Lý do đơn giản là nguyên tắc blur trong máy ảnh là những vật thể/cảnh càng xa khu vực rõ nét thì càng mờ. Trong khi đó làm theo cách trên thì tuốt tuồn tuột các cảnh từ gần đến xa trong bức ảnh đều mờ…như nhau. Như vậy, mục tiêu của việc làm mờ hậu cảnh là ta phải áp dụng blur filter thật mạnh ở những khoảng cách xa chủ thể và nhẹ dần khi tiến lại gần chủ thể. Để làm được điều này, ta sử dụng thêm 1 kênh màu alpha, sau đó áp dụng filter lens blur lên kênh màu này. Việc sử dụng alpha channel đem lại hiệu quả gần giống với việc sử dụng layer mask, chỉ khác ở chỗ là layer mask có tác dụng điều chỉnh opacity của layer, còn alpha channel thì điều chỉnh opacity của effect tác dụng lên layer. Chỗ nào channel càng đen thì filter sẽ được apply càng nhẹ và ngược lại.

Đầu tiên, mở ảnh

Vào mục channel, chọn new channel. Select channel mới này, chọn gradient tool tô sao cho những chỗ ở gần, cần mờ ít thì màu đen, chỗ càng xa, càng cần mờ nhiều thì màu trắng.

Bật con mắt ở 4 channel kia lên để xem kết quả.

Bây giờ ta cần tách chủ thể ra khỏi khu vực sẽ áp dụng filter. Muốn vậy ta tô chủ thể bằng màu đen trong alpha channel (khi tô màu thì nó sẽ ra màu đỏ khi bật cả 4 channel).

Xong xuôi việc xử lý alpha channel, giờ đến công đoạn ốp 1 phát lens blur. Vào filter/Blur/Lens blur, trong phần source chọn Alpha. Chỉnh 2 giá trị blur focal distance và radius phù hợp. Em thường để 2 món này là 10-15, shape là octagon.

DONE.


Xoá phông nền ảnh bằng PS

Xóa phông nền 1 bức hình là công việc khá quan trọng nếu như bạn muốn ghép chủ thể vào hình khác. Bạn có thể thấy rõ những tác phẩm của việc xóa phông nền trên bìa tạp chí, trên poster, trên áp phích… Xóa phông nền không quá khó nếu như bạn tỉ mỉ và biết kiên nhẫn. Bài viết sẽ hướng dẫn bạn đọc những cách xóa phông nền bằng phần mềm Adobe Photoshop Extended CS5.
Điều tiên bạn cần làm là mở bức hình mà có chủ thể bạn muốn cắt ra, sau đó nhân đôi layer background lên bằng phím tắt CTRL + J. Lý do làm vậy là đề phòng bạn có làm hỏng thì vẫn còn hình gốc để mà làm lại. Bạn có thể tải bức hình trong bài hướng dẫn tại link này. Sau đây là các cách để xóa phông nền.
Xóa bằng Eraser
Cách này rất thủ công và kém hiệu quả nhất. Chọn công cụ Eraser, phím tắt là E. Tắt chế độ hiện thị của layer background đi bằng cách ấn vào hình con mắt.
Hãy chọn layer bạn vừa nhân đôi lên, ở đây sẽ là Layer 1. Bắt đầu từ đây bạn hãy… xóa phông nền. Tùy vào các vị trí bạn hãy chọn Brush size và Brush Hardness phù hợp. Mình thì thường chọn Hardness là 0% cho đỡ bị xóa vào chủ thể. Bạn có thể chọn Size và Hardness cho bút bắng cách nhấn phải vào hình, 1 tấm bảng sẽ hiện ra.
Việc xóa bằng Eraser đối với những phông nền đơn giản thì lại rất dễ nhưng khi gặp những bức hình phức tạp thì lại rất mất công sức. Và đặc biệt là, rất khó để quay lại trạng thái trước đó (CTRL+ALT+Z) do bộ nhớ PTS có hạn.
Xóa bằng cách Mask layer
Cách này được ưa thích hơn xóa bằng Eraser ở chỗ nó có thể trở lại trạng thái ban đầu rất dễ dàng. Mình sẽ giải thích rõ cho các bạn. Hãy bắt đầu lại từ đầu khi nhân đôi layer background. Ấn vào nút như bức hình dưới, bạn sẽ thấy layer 1 của bạn đã được chèn 1 lớp Mask.
Chọn công cụ Brush, phím tắt là B. Bạn sẽ thấy lúc này màu của Brush sẽ chỉ là đen và trắng. Bạn hãy bắt đầu bôi màu đen lên phông nền, bạn sẽ thấy nó có tác dụng như thế nào. Sau đó ấn phím tắt X để chọn màu trắng, bôi lên bức hình và chỗ đã bị xóa đi, bạn sẽ thấy những vùng bị xóa đã “quay trở lại”.
Như đã nói ở trên, do PTS dùng bộ nhớ có hạn nên bạn không thể lúc nào cũng quay lại trạng thái lúc trước (CTRL+ALT+Z). Vì thế đa số designer đều dùng Mask Layer để chẳng may có xóa hỏng, họ có thể dễ dàng trở lại trạng thái trước đó.
Xóa bằng Pen tool
Đối với những ai ít sử dụng Pen tool thì tốt nhất đừng làm theo cách này bởi đây thực sự là 1 “cơn ác mộng”. Cách này về cơ bản thì cũng giống Mask layer, tuy nhiên nó sẽ tạo ra 1 Mask dạng vector. Có nghĩa là bạn có thể tùy biến cái Mask đó. Hãy chọn Pen tool, phím tắt P. Sau đó bạn hãy bắt đầu vẽ xung quanh chủ thể. Bạn đừng lo nếu bị lệch ra ngoài, điều quan trọng ở đây là bạn vẽ sao cho giống vật thể chứ không phải là vẽ tất cả. Vẽ xong bạn hãy vào Layer>>Vector Mask>>Current Path. Hình sẽ được cắt ra, bạn hãy chọn Direct Selection Tool như trong hình dưới. Lúc đó, bạn hãy chỉnh sửa lại các điểm vector mà bạn đã vẽ bằng Pen tool. Và “cơn ác mộng” lại bắt đầu!
Xóa bằng Quick Selection Tool
Cách mà mình yêu thích nhất vì làm rất nhanh và hiệu quả. Chọn Quick Selection Tool, phím tắt W, sau đó giữ chặt chuột trái và di trên chủ thể, tránh di trên phông nền. Bạn sẽ thấy là PTS sẽ tự động chọn chủ thể khi bạn di chuột, nếu có phần bị chọn nhầm, bạn hãy giữ nút ALT và bấm vào đó để bỏ chọn đi. Ấn vào Refine Edge ở trên cùng màn hình, một cửa sổ sẽ hiện ra.
Chọn chế độ View phù hợp nhất với bạn để có thể thấy rõ chủ thể nhất, điều chỉnh Radius nếu muốn mở rộng bán kính vùng chọn.Điều chỉnh Smooth để đường viền mượt hơn, điều chỉnh Feather để làm mở đường viền, điều chỉnh Contrast để tăng giảm độ tương phản, Shift edge để dịch chuyển đường viền. Chọn Output mà bạn muốn. Mình thường chọn New layer with mask để nếu có vấn đề gì còn chỉnh sửa lại.
Vậy là xong, khi lấy được chủ thể ra khỏi phông nền thì bạn có thể làm bất cứ gì với hình đó. Chúc bạn đọc thành công.
Nguồn Genk.vn

Tăng sáng cho ảnh

Màu xanh dương và chế độ hòa trộn Screen cũng có thể giúp tăng sáng cho ảnh.

Bước 1: Mở ảnh cần tăng sáng. Nhấn Ctrl+J để nhân bản lớp Background thành lớp mới với tên là Layer 1.

Bước 2: Trên bảng Layers, bạn nhấn chọn ký hiệu Create new fill or adjustment layer , chọn Hue/Saturation để thay đổi màu cho ảnh.

Bước 3: Đánh dấu chọn Colorize, sau đó định thông số Hue = 215, Saturation = 15, Lightness = 0. Xong, nhấn OK.

Bước 4: Định chế độ hòa trộn cho lớp Hue/SaturationScreen.


Kết quả cuối cùng


10 tips giúp nâng cao bố cục hình ảnh

1. Quy tắc số lẻ – Rule of odds

Hiểu theo cách đơn giản, “quy tắc số lẻ” nghĩa là bạn có một số lẻ các chủ thể, đối tượng (objects) trong bức ảnh của bạn. Ảnh của bạn có thể là một bức ảnh với 1 hoặc 3 hoặc 5,… chủ thể. Quy tắc này giúp bức ảnh trở nên hấp dẫn và thú vị hơn trong mắt người xem.

Bức ảnh với bốn quả dâu tây này trông khá nhạt và buồn tẻ. Khó có thể tìm đâu là điểm nhấn của bức ảnh.

Một bức ảnh tương tự với chỉ 3 quả dâu tây nhưng số lẻ quả dâu tây làm cho bức ảnh trông thú vị hơn nhiều.

2. Hạn chế DOF – Limiting the Focus

Hạn chế chiều sâu của bức ảnh (Depth of Field – DOF) là một cách dễ dàng để tăng điểm nhấn của bức ảnh. Kỹ thuật này có thể không cần thiết áp dụng với mọi bức ảnh nhưng lại hữu ích khi bạn muốn làm giảm sự chú ý tới những chủ thể mà bạn muốn ẩn đi. Ứng dụng phổ biến nhất của kỹ thuật này là làm mờ (blur) đi hậu cảnh (background). Blur the background làm cho những background rối mắt trở nên êm ả hơn. Bạn có thể giảm thiểu hóa DOF trong những bức ảnh của bạn bằng cách sử dụng lens với độ mở (aperture) lớn (ví dụ F1.8), zoom cận cảnh (ví dụ như 70-200 zoom vào 135 hoặc 200), hoặc dùng những máy ảnh có sensor lớn (như những DSLR full frame)

Những cây cối trong background nếu được lấy nét có thể làm phân tán sự chú ý của người xem chủ thể chính của búc ảnh. Bằng cách làm mờ hậu cảnh, bức hình này tạo điểm nhấn vào đôi bạn trẻ.

Việc làm mờ đi hậu cảnh làm dẫn sự chú ý của người xem đến đôi mắt của nhân vật trong bức ảnh này

3. Đơn giản hóa – Simplification

Cách tốt nhất để tăng điểm nhấn của bức ảnh là chụp một bức hình trông đơn giản. Cách dễ nhất để làm được điều này là hạn chế số lượng chủ thể trong ảnh của bạn. Bạn có thể sử dụng tip 2 để làm mờ đi những chi tiết gây phân tán sự chú ý của người xem.

Sự đơn giản làm cho ý nghĩa của bức này rõ ràng, thu hút sự chú ý và khiến người xem dành nhiều thời gian hơn cho bức ảnh.

4. Đưa chủ thể chính vào trung tâm – Centering

Đưa chủ thể vào trung tâm của ảnh tạo ra sự cân bằng cho bức ảnh. Típ này có hiệu quả nhất với những bức ảnh đơn giản có chỉ một vài chủ thể.

Một công nhân khoan ở trung tâm của bức ảnh tạo ra điểm nhấn vào người công nhân khoan, đồng thời ảnh ấn tượng hơn nhờ không gian clean xung quanh.

Trong ảnh, một đầu dây mạng đơn giản, trở nên thú vị bằng cách đưa đầu dây vào giữa ảnh một cách đơn giản

5. Nguyên tắc của những 1 phần 3 – Rule of thirds

Nguyên tắc này là một trong những cách hiệu quả và phổ biến nhất được sử dụng trong bố cục một bức ảnh. Bạn có thể dễ dàng cải thiện bố cục bức ảnh của bạn bằng cách sử dụng nguyên tắc này do mắt con người chú ý tự nhiên đến những điểm này khi xem một bức ảnh. Theo nguyên tắc này, bức ảnh sẽ trở nên cuốn hút hơn bằng cách đưa chủ thể chính mà bạn muốn nhân mạnh vào một trong bốn điểm giao nhau của những đường kẻ 3×3 tưởng tượng trên khuôn hình.

Trong hình, con thuyền được đưa vào điểm 1/3 ở góc dưới bên trái tạo ra điểm nhấn thu hút vào con thuyền và làm bức ảnh trông thú vị hơn.

Khi chụp chân dung, bạn có thể sử dụng nguyên tắc này để tăng điểm nhấn vào đôi mắt. Chỉ đơn giản dưa đôi mắt hoặc vùng mắt vào những điểm 1/3 theo nguyên tắc này, bạn có thể có được những bức chân dung ấn tượng.

6. Tạo khoảng trống – Lead room

Lead room là khoảng trống phía trước chủ thể (hướng mà chủ thể hướng tới). Típ này thường được sử dụng cùng với Rule of thirds để làm cho những bức ảnh hấp dấn hơn. Bằng cách để lại khoảng trống phía trước chủ thể, người xem sẽ như cảm thấy rằng chủ thể di chuyển về khoảng trông.

Người trượt ván tuyết được đặt ở vị trí 1/3 bên trên với lead room ở phía trước tạo ra điểm nhấn vào anh ta và cảm giác anh ta đang bay về phía khoảng trống trong bức ảnh

Lead room trước mặt người chạy trong bức ảnh làm bức ảnh trở nên action/active hơn. Nó cũng lôi kéo sự chú ý của người xem đến cảnh hoàng hôn

Để lại khoảng trống phía sau bức ảnh tạo ra cảm giác cô gái sắp kết thúc running.

7. S curve

S Curve là một đường S tưởng tượng trong một bức hình. Bố cục theo cách này làm những bức ảnh trông thú vị hơn nhờ việc dẫn dắt mắt người xem theo đường S tưởng tượng trong bức hình của bạn. S curve cũng có thể sử dụng trong việc tạo dáng (posing) để tăng khả năng biểu cảm/thể hiện của người mẫu

Một ví dụ về đường cao tốc với S curve.

Một bức ảnh khác về đường cao tốc nhưng trông không sinh động bằng bức ảnh trên do không có S curve

S curve cũng có thể được áp dụng khi posing. Những ví dụ sớm nhất về áp dụng S curve có thể được thấy trong những tác phẩm điêu khắc thời Hy Lạp và La Mã cổ đại.

8. Tiền cảnh – Foreground

Đa số các bức ảnh dành phần lớn cho trung cảnh (middleground) và hậu cảnh (background) và phần nhỏ cho tiền cảnh (foreground). Bạn có thể làm ảnh phong cảnh đẹp và ấn tượng hơn nhiều bằng cách thêm tiền cảnh và có một vài chủ thể trong tiền cảnh. Đây là một trong những kỹ năng được sử dụng để tạo ra cảm giác về độ lớn, chiều sâu bức ảnh và làm cho người xem đôi khi cảm thấy như thể anh ấy/ cô ấy đang ở trong bức ảnh.

Những hòn đá trong bức ảnh phong cảnh này tạo cho người xem có cảm nhận về chiều sâu và độ lớn không gian.

Việc thêm tiền cảnh vào bức ảnh làm cho ta có cảm giác như đang ở đó.

9. Lấp đầy khuôn hình – Fill the frame

Khi bạn nghĩ bạn đã tiến đủ gần đến chủ thể, hãy thử tiến gần đến chủ thể hơn nữa. Bạn sẽ có thêm một bố cục/bức hình nữa bằng cách lấp đầy khoảng trống trong khuôn hình với chủ thể

Tiến lại gần hơn và lấp đầy khuôn hình với đầu của con sói giúp tăng điểm nhấn vào con sói và tăng sự kịch tích/ý nghĩa của bức hình. 2 hình trên là của cùng 1 con sói nhưng nội dung của mỗi bức hình hoàn toàn khác nhau.

10. Khuôn trong khuôn – Framimg

Đây là một cách sáng tạo để thêm tiền cảnh vào trong ảnh của bạn. Hãy sử dụng những vật thể quanh bạn để tạo khuôn hình ảo cho chủ thể trong bức ảnh của bảnh. Kỹ thuật này là một trong những cách tuyệt vời để làm tăng sự hấp dẫn của bức ảnh và làm cho một bức ảnh thực sự khác biệt so với những bức ảnh khác.

Bức ảnh này sử dụng hình bóng để tạo ra một khuôn hình ảo xung quanh Đền Taj Mahal.

Frames không nhất thiết phải hoàn hảo, cân đối mà có thể tự nhiên như 2 cây trong bức ảnh này.


Kỹ thuật HDR

Hôm nay xin chia xẻ cùng các bạn một kỹ thuật chụp ảnh gọi là HDR (High Dynamic Range) xin tạm gọi Màu Sắc Cao. Phương pháp này sẽ dùng một khung cảnh nhưng nhiều hình từ hình tối đến hình sáng, tự động chọn những khoàn nào ánh sáng hoàn hảo nhất của từng hình để góp lại thành một hình đẹp nhất. (thật là khó khi phài diễn tả danh từ kỹ thuật bằng tiếng Việt cho rỏ ràng, hy vọng các bạn hiều tôi muốn nói gì)

Ảnh bình thường


Ảnh HDR


Phương pháp mà tôi đang tập sự là chỉnh máy hình chế độ “Auto Exposure Bracketing (AEB Mode)”
Nếu là máy Canon DSLR thì vào Menu > 2 > chọn [AEB] > chọn -2 0 +2
Nếu là máy Canon PowerShot thì bấm FUNC > rồi đến AEB > bấm SET > chọn -2 0 +2
Khi chọn chế độ AEB mỗi khi bấm máy, thì máy của bạn sẽ chụp 3 hình cùng một lúc (1 tấm bình thường, 1 tấm -2 và 1 tấm +2). Xem sách hướng dẫn để biết cách làm cho máy chụp hình của bạn. Có một số máy P&S không có chức năng này, một số máy DSLR cao cấp có thể chụp được 5 tấm một lúc thì nên để -2, -1, 0, +1, +2

Sau đó tôi dùng software “Photomatix” để ghép những tấm hình nàt thành hình HDR, bạn có thể download try version từ đây : http://photomatix-en.s3.amazonaws.com/PhotomatixPro325x32.exe

Ảnh AEB 0, -2, +2


Cách làm sau đây:
Chạy program PhotoMatix
1 – Bấm vào “Generate HDR image”
2 – Bấm vào “Browse”
3 – Chọn 3 tấm hình AEB
4 – Bấm OK


Kế đến khung “Generate HDR – Options” sẽ hiện ra
1 – Chọn “Align source images” và “By correct horizontal and vertical shifts”
2 – Chọn “Attempt to reduce ghost artifacts” và “Backgroud movements”
3 – Chọn “Take tone curve of color profile”
4 – Bấm OK


Lúc này nhìn tấm hình rất tệ, nhưng không sao đừng để ý tới, sau đó Bấm vào “Tone Mapping”


1 – Bấm vào “Tone Compressor”
Chỉnh sửa theo ý bạn, tôi thì thường chọn chế độ có sẵng “Default”
2 – Bấm “Process”


Sau đó
1 – Bấm File > Save As
2,3 – Save file theo format và folder nào mình muốn
4 – Bấm “Save”


Hy vọng các bạn sẽ tìm được trò chơi lý thú với phương pháp HDR này, và sẽ upload HDR photo lên đây cho bà con thưởng thức. Smile Laughing

Ảnh của Scott Kelby tại http://www.scottkelby.com/blog/?s=gapw


Cuộc thi ảnh: “Việt Nam – Đất nước và Con người”

Vietnam Airlines Facebook Contest

Cuộc thi ảnh: “Việt Nam – Đất nước và Con người”

I/ Giới thiệu:
Việt Nam luôn là điểm đến hấp dẫn, là sự lựa chọn của du khách năm châu khi bắt đầu mỗi cuộc hành trình. Để góp phần quảng bá hình ảnh thân thiện, cởi mở của thiên nhiên, con người nước Việt Nam cùng những nét đặc trưng văn hoá hấp dẫn của cộng đồng 54 dân tộc anh em, Vietnam Airlines mong muốn tìm kiếm những bức ảnh chân thực, sinh động nhất nhằm khám phá, tôn vinh vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong mỗi con người, mỗi công trình kiến trúc, mỗi địa danh, mỗi tộc người anh em trên khắp mọi miền của Tổ quốc.

II/ Ban tổ chức:
Hãng hàng không quốc gia Việt Nam – Vietnam Airlines.

III/ Thể lệ cuộc thi:
1. Đối tượng dự thi:
Không hạn chế.
Thành viên Ban tổ chức, Hội đồng giám khảo không được tham gia dự thi.

2. Thời gian cuộc thi:
-Nhận bài dự thi: từ ngày 07/02/2011 đến 06/03/2011.
-Chấm bài dự thi: từ ngày 07/03/2011 đến 14/03/2011.
-Công bố giải thưởng: cuối tháng 03/2011.

3. Nội dung cuộc thi:
Tìm kiếm, khám phá và tôn vinh những nét đẹp của đất nước – con người Việt Nam, trong tiến trình hội nhập nhưng vẫn gìn giữ được những nét đẹp đậm bản sắc dân tộc.
Cuộc thi ảnh có các chủ đề như sau:
-Thiên nhiên Việt Nam
-Văn hóa Việt Nam
-Con người Việt Nam

4. Cách thức dự thi:
Thí sinh gửi ảnh dự thi có kèm Đơn tham dự theo mẫu về địa chỉ mail vna.cuocthianh@gmail.com với tiêu đề đặt tên theo mẫu:
VNAFB – “Việt Nam – Đất nước và Con người” – Họ tên người tham dự.

Bài dự thi bao gồm các phần:
-Tiêu đề (bắt buộc): Thí sinh đặt tên cho bài dự thi của mình.
-Ảnh (bắt buộc): Mỗi bài dự thi chỉ bao gồm tối thiểu 01 ảnh và tối đa 05 ảnh.
-Bình luận (tự chọn): Thí sinh có thể đưa thêm bình luận cá nhân về bức ảnh của mình nếu muốn.
-Thông tin thí sinh (bắt buộc):
·Họ & tên
·Ngày, tháng, năm sinh
·Số CMNN
·Thời gian & địa điểm chụp
·Địa chỉ cư trú
·Nghề nghiệp
·Số điện thoại liên lạc

5. Giải thưởng, cách thức chấm giải và bình chọn:
Cuộc thi có 2 hệ thống giải: giải do BGK chấm và giải do khán giả bình chọn.
-01 giải do BGK chấm có số điểm cao nhất: 1 cặp vé khứ hồi Việt Nam đi Hồng Kông
-01 giải cho bài dự thi ảnh đơn được bình chọn nhiều nhất: 1 cặp vé khứ hồi Việt Nam đi Thái/ Sing/ Mã
-01 giải cho bài dự thi ảnh bộ được bình chọn nhiều nhất: 1 cặp vé khứ hồi Việt Nam đi Thái/ Sing/ Mã

Thành phần BGK bao gồm:
-Nhiếp ảnh gia Lê Anh Dũng
-Nhiếp ảnh gia Nguyễn Việt Thanh

Cách thức trao giải khán giả bình chọn: Tất cả các thành viên của Facebook đều được tham gia bình chọn ảnh. Đối tượng dự thi đăng ký một địa chỉ Facebook và trở thành fan của trang Facebook Vietnam Airlines. Sau khi ban tổ chức đưa bài của người dự thi lên FanPage của Vietnam Airlines, người dự thi cần đánh dấu (tag) bức ảnh vào Facebook cá nhân của mình để các bạn bè có thể tham gia bình chọn cho bức ảnh bằng cách click nút “Like” tại mỗi bài dự thi. Số lượng bình chọn “like” của mỗi bài dự thi sẽ được tính để trao các giải thưởng “yêu thích” của khán giả.

IV/ Yêu cầu về ảnh dự thi:
-Ảnh dự thi phải là ảnh của thí sinh tham gia tự mình thực hiện.
-Ảnh dự thi phải là ảnh số và định dạng ở file JPG. Dung lượng ảnh nhỏ hơn 5MB.
-Ảnh tham gia dự thi được chụp trong vòng 1 năm kể từ ngày phát động cuộc thi và chưa gửi tham gia chính thức một cuộc thi khác nào.

V/ Các quy định khác
-Tác phẩm tham gia dự thi là loại ảnh màu hoặc đen trắng, bao gồm 2 loại: ảnh đơn và ảnh bộ. Ảnh bộ không quá 05 ảnh.
-Số lượng ảnh, bộ ảnh dự thi của mỗi tác giả: không hạn chế.
-Ảnh dự thi phải là tác phẩm nguyên bản, không được dùng kỹ xảo *****g ghép, không được dùng kỹ thuật chỉnh sửa.
-Giải thưởng sẽ được áp dụng cho đúng người tham gia dự thi, không quy đổi thành tiền mặt hay chuyển nhượng cho người khác.
-Ban Tổ Chức giữ quyền quyết định cuối cùng về kết quả người thắng giải thưởng chung cuộc.
-Hình thức dự thi: chỉ nhận bài dự thi qua email tại địa chỉ: vna.cuocthianh@gmail.com. Ngoài ra không chấp nhận các hình thức đăng ký khác.
-Ngay khi nhận được đơn tham dự của bạn, BTC sẽ gửi lại một lá thư xác nhận của chương trình. Nếu bạn không nhận được thư xác nhận, vui lòng thực hiện lại việc gửi bài. BTC không chịu trách nhiệm trong bất kỳ trường hợp bài thi bị thất lạc nào.

SỬ DỤNG TÁC PHẨM
-Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Việt Nam – Đất nước và Con người” không nhằm mục đích kinh doanh.
-Tất cả các tác phẩm đều được đăng tải trên trang Facebook của Vietnam Airlines.
Chủ sở hữu quyền tác giả thuộc những đơn vị tổ chức cuộc thi: Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines). Vietnam Airlines được quyền sử dụng, để tuyên truyền dưới mọi hình thức, trên các phương tiện thông tin đại chúng khi thấy phù hợp và cần thiết.
Bản quyền tác phẩm thuộc về tác giả (người đứng tên dưới tấm ảnh).
-Ban Tổ chức không chịu trách nhiệm về những tranh chấp quyền tác giả cũng như các quyền liên quan.
-Tác phẩm đã đoạt giải nhưng nếu để xảy ra những vẫn đề phát sinh như vi phạm quyền tác giả và quyền liên quan theo quy định của pháp luật, Ban tổ chức sẽ thu hồi giải thưởng và giấy chứng nhận đã cấp.

TRÁCH NHIỆM CỦA TÁC GIẢ:
-Thực hiện đúng thể lệ cuộc thi, việc tác giả gửi tác phẩm tham dự thi coi như chấp thuận mọi quy định trong thể lệ cuộc thi.
-Chịu hoàn toàn trách nhiệm về quyền tác giả và quyền liên quan theo quy định của pháp luật.

Link: FaceBook VietnamAirlines – note – Contest


Bí quyết chụp ảnh cưới đẹp đến ngỡ ngàng

Bạn có muốn mọi người trầm trồ khi chiêm ngưỡng cuốn album ảnh cưới của mình không? Dưới đây là một số bí quyết giúp bạn đẹp và có phong cách hơn khi chụp ảnh cưới.

1. Tuyệt chiêu của người mẫu chuyên nghiệp: Lưỡi chống phía sau răng hàm trước, có thể làm cho phần môi mọng hơn và khuôn mặt càng xinh hơn.

2. Tại những phần không được gọn gàng trên khuôn mặt thì trang điểm bằng gam màu tối hơn để làm khuôn mặt thon gọn, đánh sáng vùng chữ T.

3. Nếu là chụp ảnh kỷ niệm với bạn bè ở nơi tổ chức hôn lễ thì cố gắng để mặt ở vị trí phía sau người khác 1 chút, như vậy thì mặt bạn sẽ nhỏ đi.

4. Không nên dùng phấn quá sáng và quá nhiều chuốt mi dạng nước. Như vậy sẽ làm cho mắt nhỏ đi. Nhưng son môi tốt nhất thì nên đánh bóng, sáng, như vậy lên ảnh sẽ rất tinh tế.

5. Nên hướng ánh mắt ra xa xăm, có thể làm cho bức ảnh sống động hơn, hoặc là nghiêng đầu mỉm cười trong khi đấng phu quân thì thầm vào tai bạn, sẽ khiến hình ảnh của hai bạn rất đẹp và tình tứ, cố gắng đừng để ánh mắt hai người nhìn nhau vô hồn.
6. Đầu hơi ngửa lên trên, mũi sẽ nhỏ đi chút xíu.

7. Quan trọng nhất là tự tin rằng hôm nay mình là cô gái xinh đẹp nhất, đừng lo lắng mình thế này không xinh xắn, phải thoải mái, đầy tự tin mới có thể có được một bức ảnh cưới để đời.

8. Cười mỉm là trạng thái ăn ảnh nhất, trong ảnh cưới tốt nhất đừng cười quá lớn, để tránh cho nếp nhăn ở hai mắt rõ hơn.

9. Đứng tự nhiên, thẳng lưng, như vậy thì sẽ để lộ đường cong từ chân, cánh tay.
10. Nên cầm đạo cụ trong tay, khuyên dùng những đóa hoa tươi nhiều màu sắc.

11. Ánh nắng sẽ làm cho trang điểm nhìn mờ nhạt, do đó cần điều chỉnh, ánh nắng quá chói sẽ làm cho khuôn mặt có bóng, mắt cô dâu chú rể sẽ nheo lại, mất đi vẻ tự nhiên, cố gắng chụp vào ngày râm mát.

12. Để mũi cao hơn so với ống kính 1 chút, có thể làm cho khuôn mặt đẹp hơn, giảm bóng dưới mắt.

13. Bạn có thể chọn vài bộ áo cưới để làm sống động cuốn album của mình, nên mặc áo cưới có màu hơi tối. Áo cưới màu hồng hoặc màu không đủ sáng sẽ tôn lên nét tinh tế và dịu dàng của khuôn mặt, còn những áo cưới có màu sáng quá sẽ làm khuôn mặt to.

14. Phần mặt và cổ là trọng điểm, khi chọn váy cưới thì cổ lá sen, cổ hở sẽ để lộ xương cổ hấp dẫn của người phụ nữ, rất phù hợp. Mà cổ hình chữ U cũng làm cho cổ và khuôn mặt dài hơn.. Váy cưới có nơ hình bướm trước cổ, ngực có tác dụng kéo dài và cải thiện cho khuôn mặt.

15. Nếu bạn không biết nét xinh xắn nhất của mình thì phiền người chụp chụp ở nhiều góc độ, và chọn 1 tấm đẹp nhất.

16. Bất luận là chụp gần hay xa hay là thay đổi tư thế thì tốt nhất là nên để nổi bật ngũ quan hay ưu điểm.

17. Để mặt thanh tao hơn, bạn hãy hơi cúi xuống, mắt hơi nhìn lên trên thì sẽ có thần và nhìn to hơn.

18. Trước khi chụp ảnh vài ngày không nên ăn thực phẩm có nhiệt lượng cao như bánh ga tô, bỏng ngô, đồ ăn quá cay để tránh tổn hại cho da. Uống nhiều nước (Nhưng nên tránh uống 3h trước khi chụp), ăn nhiều hoa quả giúp da bạn hấp thu dinh dưỡng, ngoài ra trà bí xanh, canh đỗ canh và cà chua đều có tác dụng giảm sưng cho khuôn mặt và lợi tiểu.

19. Cố gắng hơi nghiêng 45 độ hoặc 65 độ, như vậy mặt sẽ nhỏ hơn, nét hơn.

Xinh xinh


Xác định khuôn mặt người trong ảnh kỹ thuật số

1. Giới thiệu

Hơn một thập kỷ qua, có rất nhiều công trình nghiên cứu về bài toán xác định khuôn mặt người từ ảnh đen trắng, ảnh xám, đến ảnh màu như ngày nay. Các nghiên cứu đi từ bài toán đơn giản là ảnh chỉ chứa một khuôn mặt người nhìn thẳng vào thiết bị thu hình và đầu ở tư thế thẳng đứng, cho đến ảnh màu với nhiều khuôn mặt người trong cùng ảnh, khuôn mặt có quay một góc nhỏ, hay bị che khuất một phần, và với ảnh nền của ảnh phức tạp (ảnh chụp ngoài thiên nhiên) nhằm đáp ứng nhu cầu thật sự cần thiết của con người.

Bài toán xác định khuôn mặt người (Face detection) là một kỹ thuật máy tính để xác định các vị trí và các kích thước của khuôn mặt trong ảnh bất kỳ (ảnh kỹ thuật số). Kỹ thuật này nhận biết các đặt trưng khuôn mặt và bỏ qua những thứ khác như: toàn nhà, cây cối, cơ thể…

Một số ứng dụng của bài toán xác định khuôn mặt là: hệ thống tương tác giữa người và máy (điều kiển máy tính qua các cử động của khuôn mặt), hệ thống nhận dạng người (giúp cho các cơ quan an ninh quản lý con người), hệ thống quan sát theo dõi, hệ thống quản lý việc ra vào cho các cơ quan và công ty, hệ thống kiểm tra người lái xe có ngủ gật hay không, hệ thống phân tích cảm xúc trên khuôn mặt, và hệ thống nhận dạng khuôn mặt cho các máy ảnh kỹ thuật số…

Hiện nay có rất nhiều phương pháp nhận dạng khuôn mặt người, dựa vào các tính chất của các phương pháp, ta có thể chia ra làm bốn hướng tiếp cận chính như sau: Hướng tiếp cận dựa trên tri thức: mã hoá hiểu biết của con người về các loại khuôn mặt và tạo ra các tập luật để xác định khuôn mặt. Hướng tiếp cận dựa trên đặt tả không thay đổi: mục tiêu các thuật toán tìm ra các đặt trưng mô tả cấu trúc khuôn mặt người (các đặt trưng không thay đổi với tư thế, vị trí đặt thiết bị thu hình, độ sáng tối thay đối…). Hướng tiếp cận dựa trên so khớp mẫu: dùng các mẫu chuẩn hay các đặt trưng của khuôn mặt người. Hướng tiếp cận dựa trên diện mạo: phương pháp học từ một tập ảnh huấn luyện mẫu để xác định khuôn mặt người.

Chương trình xác định vị trí khuôn mặt người trong bài viết này sử dụng hướng tiếp cận dựa trên mạo, sử dụng bộ phân loại mạnh AdaBoost là sự kết hợp của các bộ phân loại yếu dựa trên các đặt trưng Haar-like để xác định khuôn mặt. Mã nguồn được dựa trên thư viện mã nguồn mở OpenCV của Intel để cài đặt.

2. Cơ sở lý thuyết

2.1. Đặc trưng Haar-like

Do Viola và Jones công bố, gồm 4 đặc trưng cơ bản để xác định khuôn mặt người. Mỗi đặc trưng Haar–like là sự kết hợp của hai hay ba hình chữ nhật “trắng” hay “đen” như trong hình sau:

Hình 1: 4 đặt trưng Haar-like cơ bản

Để sử dụng các đặt trưng này vào việc xác định khuôn mặt người, 4 đặc trưng Haar-like cơ bản được mở rộng ra, và được chia làm 3 tập đặc trưng như sau:

  • Đặc trưng cạnh (edge features):

  • Đặc trưng đường (line features):

  • Đặc trưng xung quanh tâm (center-surround features):

 

Hình 2: Các đặc trưng mở rộng của các đặc trưng Haar-like cơ sở

Dùng các đặc trưng trên, ta có thể tính được giá trị của đặc trưng Haar-like là sự chênh lệch giữa tổng của các pixel của các vùng đen và các vùng trắng như trong công thức sau:

f(x) = Tổng vùng đen (các mức xám của pixel) – Tổng vùng trắng (các mức xám của pixel)

Sử dụng giá trị này, so sánh với các giá trị của các giá trị pixel thô, các đặc trưng Haar-like có thể tăng/giảm sự thay đổi in-class/out-of-class (bên trong hay bên ngoài lớp khuôn mặt người), do đó sẽ làm cho bộ phân loại dễ hơn.

Như vậy ta có thể thấy rằng, để tính các giá trị của đặc trưng Haar-like, ta phải tính tổng của các vùng pixel trên ảnh. Nhưng để tính toán các giá trị của các đặc trưng Haar-like cho tất cả các vị trí trên ảnh đòi hỏi chi phí tính toán khá lớn, không đáp ứng được cho các ứng dụng đòi hỏi tính run-time. Do đó Viola và Jones đưa ra một khái niệm gọi là Integral Image, là một mảng 2 chiều với kích thước bằng với kích của ảnh cần tính các đặc trưng Haar-like, với mỗi phần tử của mảng này được tính bằng cách tính tổng của điểm ảnh phía trên (dòng-1) và bên trái (cột-1) của nó. Bắt đầu từ vị trí trên, bên trái đến vị trí dưới, phải của ảnh, việc tính toán này đơn thuần chỉ đựa trên phép cộng số nguyên đơn giản, do đó tốc độ thực hiện rất nhanh.

Hình 3: Cách tính Integral Image của ảnh

Sau khi đã tính được Integral Image, việc tính tổng các giá trị mức xám của một vùng bất kỳ nào đó trên ảnh thực hiện rất đơn giản theo cách sau:

Giả sử ta cần tính tổng các giá trị mức xám của vùng D như trong hình 4, ta có thể tính như sau:

D = A + B + C + D – (A+B) – (A+C) + A Với A + B + C + D

chính là giá trị tại điểm P4 trên Integral Image, tương tự như vậy A+B là giá trị tại điểm P2, A+C là giá trị tại điểm P3, và A là giá trị tại điểm P1. Vậy ta có thể viết lại biểu thức tính D ở trên như sau:

Hình 4: Ví dụ cách tính nhanh các giá trị mức xám của vùng D trên ảnh

Tiếp theo, để chọn các đặc trưng Haar-like dùng cho việc thiết lập ngưỡng, Viola và Jones sử dụng một phương pháp máy học được gọi là AdaBoost. AdaBoost sẽ kết hợp các bộ phân loại yếu để tạo thành một bộ phân loại mạnh. Với bộ phân loại yếu chỉ cho ra câu trả lời chính xác chỉ hơn viện đoán một cách ngẫn nhiên một chút, còn bộ phân loại mạnh có thể đưa ra câu trả lời chính xác trên 60%.

2.2. AdaBoost

AdaBoost là một bộ phân loại mạnh phi tuyến phức dựa trên hướng tiếp cận boosting được Freund và Schapire đưa ra vào năm 1995 [2]. Adaboost cũng hoạt động trên nguyên tắc kết hợp tuyến tính các weak classifiers để hình thành một strong classifier.

Là một cải tiến của tiếp cận boosting, AdaBoost sử dụng thêm khái niệm trọng số (weight) để đánh dấu các mẫu khó nhận dạng. Trong quá trình huấn luyện, cứ mỗi weak classifiers được xây dựng, thuật toán sẽ tiến hành cập nhật lại trọng số để chuẩn bị cho việc xây dựng weak classifier kế tiếp: tăng trọng số của các mẫu bị nhận dạng sai và giảm trọng số của các mẫu được nhận dạng đúng bởi weak classifier vừa xây dựng. Bằng cách này weak classifer sau có thể tập trung vào các mẫu mà các weak classifiers trước nó làm chưa tốt. Sau cùng, các weak classifers sẽ được kết hợp tùy theo mức độ tốt của chúng để tạo nên strong classifier.

Viola và Jones dùng AdaBoost kết hợp các bộ phân loại yếu sử dụng các đặc trưng Haar-like theo mô hình phân tầng (cascade) như sau:

Hình 5: Mô hình phân tần kết hợp các bộ phân loại yếu để xác định khôn mặt

Trong đó, hk là các bộ phân loại yếu, được biểu diễn như sau:

x: cửa sổ con cần xét

Ok: ngưỡng (O = teta)

fk: giá trị của đặc trưng Haar-like

pk: hệ số quyết định chiều của phương trình

AdaBoost sẽ kết hợp các bộ phân loại yếu thành bộ phân loại mạnh như sau:

H(x) = sign(a1h1(x) +a2h2(x) + … + anhn(x)) (a = alpha)

Với: at >= 0 là hệ số chuẩn hoá cho các bộ phân loại yếu

Hình 6: Kết hợp các bộ phân loại yếu thành bộ phân loại mạnh

3. Hệ thống xác định vị trí khuôn mặt người

Hình 7: Hệ thống xác định vị trí khuôn mặt người (Face detection system)

Như trong hình trên, từ ảnh gốc ban đầu, ta sẽ được tính Integral Image, là mảng 2 chiều với phần tử (x, y) sẽ được tính bằng tổng của các phần tử (x’, y’) với x’ < x và y’ < y, mục đích là để tính nhanh tổng của các giá trị mức xám của một vùng hình chữ nhật bất kỳ trên ảnh gốc. Các vùng ảnh con này sẽ được đưa qua các hàm Haar cơ bản để ước lượng đặc trưng, kết quả ước lượng sẽ được đưa qua bộ điều chỉnh AdaBoost để loại bỏ nhanh các đặc trưng không có khả năng là đặc trưng của khuôn mặt người.Chỉ có một tập nhỏ các đặc trưng mà bộ điều chỉnh AdaBoost cho là có khả năng là đặc trưng của khuôn mặt người mới được chuyển sang cho bộ quyết định kết quả (là tập các bộ phân loại yếu có cấu trúc như trong hình 5). Bộ quyết định sẽ tổng hợp kết quả là khuôn mặt người nếu kết quả của các bộ phân loại yếu trả về là khuôn mặt người.

Mỗi bộ phân loại yếu sẽ quyết định kết quả cho một đặc trưng Haar-like, được xác định ngưỡng đủ nhỏ sao cho có thể vượt được tất cả các bộ dữ liệu mẫu trong tập dữ liệu huấn luyện (số lượng ảnh khuôn mặt trong tập huấn luyện có thể rất lớn). Trong quá trình xác định khuôn mặt người, mỗi vùng ảnh con sẽ được kiểm tra với các đặc trưng trong chuỗi các đặc trưng Haar-like, nếu có một đặc trưng Haar-like nào cho ra kết quả là khuôn mặt người thì các đặc trưng khác không cần xét nữa. Thứ tự xét các đặc trưng trong chuỗi các đặc trưng Haar-like sẽ được dựa vào trọng số (weight) của đặc trưng đó do AdaBoost quyết định dựa vào số lần và thứ tự xuất hiện của các đặc trưng Haar-like.

4. Tài liệu tham khảo
[1] Tổng quan các phương pháp xác định khuôn mặt người – Phạm Thế Bảo, Nguyễn Thành Nhựt, Cao Minh Thịnh, Trần Anh Tuấn, Phan Phúc Doãn.
[2] Seeing with OpenCV – Robin Hewitt.
[3] Rapid Object Detection using a boosted Cascade of Simple Features.

Hoàng Đăng Quang
Download: Source code


Chụp ảnh cận cảnh đẹp

Nhiếp ảnh gia nổi tiếng thời chiến Robert Capa đã từng nói: “Nếu ảnh của bạn không được đẹp có nghĩa bạn chưa đứng đủ gần”. Câu nói này dành cho kiểu ảnh macro (cận cảnh). Ngày nay, máy ảnh compact du lịch có thể chụp rất gần đối tượng, thậm chí là chỉ cách 1cm.

Chúng ta vẫn biết hoa lá, côn trùng, động vật… là những đối tượng lý tưởng để chụp ảnh macro. Tuy nhiên, những vật dụng gần gũi hàng ngày với chúng ta, như cái kẹo hay tách café cũng cho ta những bức ảnh cận cảnh tuyệt đẹp. Một số máy ảnh du lịch (point-and-shoot) cho phép chụp ảnh macro và nhờ vào sự tinh tế của “tay máy” chúng ta sẽ vẫn có thể có được những tấm ảnh cận cảnh đẹp không kém các máy ảnh chuyên nghiệp.

Nghe có vẻ rất dễ chụp ảnh cận cảnh nhưng có một số yếu tố có thể làm hỏng bức hình của bạn. Sau đây là những thủ thuật giúp bạn “chộp” được những tấm ảnh đẹp ở chế độ Macro.

1. Kiểm tra tiêu cự (focus)

Có máy ảnh cho chụp Macro với khoảng cách 1cm

Ảnh chụp cận cảnh được xem là đẹp khi nó đáp ứng được độ sắc nét và đầy đủ chi tiết của từng yếu tố trong tấm ảnh. Vì thế, bạn nên kiểm tra hướng dẫn sử dụng của máy ảnh để căn lấy khoảng cách tiêu cự tối thiểu của ống kính ở chế độ Macro. Một số máy ảnh point-and-shoot sẽ phát sáng đèn trên màn hình LCD để báo cho người dùng biết máy không thể lấy được tiêu cự của đối tượng chụp vì quá gần.

Tuy nhiên, lúc chụp xong ảnh, khi xem lại ảnh ở chế độ Playback,  bạn nên zoom vào để kiểm tra khu vực mà bạn muốn lấy nét có đầy đủ chi tiết, có sáng rõ không.

2. Nín thở

Gió thổi sẽ khiến cánh hoa rung rinh làm cho ảnh bị mờ

Chụp ảnh trong điều kiện môi trường có thể kiểm soát được, như studio hay trong phòng, thì bạn không phải lo nghĩ nhưng nếu chụp ở ngoài trời, với cây lá cành hay là ong bướm… thì chỉ cần một làn gió thổi cũng có thể phá hỏng cả bức ảnh chụp macro của bạn. Vì thế, để hạn chế tối đa sự “phá bĩnh” này, bạn nên nín thở để không làm lay động những vật thể bé xíu đang trong tầm ngắm của ống kính.

Tuy nhiên, bạn không thể nào “lấy tay che cả bầu trời”, thế nên, để tránh bị gió thổi thì bạn nên đặt chiếc túi hay nhờ bạn bè chắn hộ hướng gió để đảm bảo sự tĩnh lặng trong khi “tác nghiệp”.

3. Đèn flash

Đèn flash sẽ hỗ trợ máy ảnh khi thời tiết không như mong muốn

Đôi khi thời tiết không chiều lòng con người, lúc thì trời nắng chang chang, lúc thì mây đen kéo đến đúng lúc bạn giơ máy lên để chụp. Vì thế, lúc này bạn chỉ còn cách bật đèn flash tích hợp.

Sau khi đã chụp ảnh xong, bạn có thể khắc phục chất lượng ảnh bằng cách bù sáng để trông ảnh mượt mà hơn.

Còn nếu không, hãy chờ đến lúc trời trong xanh trở lại để “tác nghiệp” vì ánh nắng mặt trời luôn cho ảnh đẹp nhất.

4. Sắp xếp gọn gàng không gian xung quanh

Thu gọn không gian để máy ảnh không bị lệch tiêu cự

Bạn nên cố gắng dọn dẹp gọn hàng không gian khung quanh vì có thể chính chúng sẽ khiến máy ảnh không lấy được nét như mong muốn.

Mắt người thường bị cuốn hút bởi các màu sắc bắt mắt vì thế bạn nên thay đổi góp chụp hoặc di chuyển các vật thể xung quanh để ảnh chụp của bạn được gọn gàng hơn.

5. Để ISO thấp và dùng chân đế tripod

Chân đế giữ máy không bị rung

Ngoài việc giảm tối đa sự “can thiệp” của các vật thể khác thì bạn cũng nên giảm sự tác động của chính máy ảnh làm xấu tác phẩm của mình.

Bạn nên đặt chế độ nhạy sáng ISO thấp nhất và tốt hơn nữa là dùng chân đế tripod để giữ máy khi chụp. Và, để tránh rung tay thì chụp ảnh ở chế độ hẹn giờ.


CNet


9 bài tập chụp ảnh cho mọi người

Bạn có xem lại những ảnh mình chụp và rút ra điều gì không? Có lẽ dễ dàng nhận ra nhất là các ảnh chỉ là những hình chụp về người thân, bạn bè thuộc thể lọai ảnh lưu niệm. Tuy nhiên với sự sáng tạo cũng như tận dụng hết tính năng trên máy, bạn cũng có thể tạo ra những tác phẩm đẹp và đa dạng. Điều này cũng không quá khó và chúng ta hãy thực tập nó thông qua 9 bài tập chụp ảnh đơn giản ở đây.

1. Chụp ảnh xung quanh nhà
Quan sát kỹ vườn nhà mình, bạn sẽ tìm thấy được nhiều điều lý thú để chụp. Nếu bạn sống ở những khu phố, căn hộ thì từ “vườn nhà” sẽ là những gì bạn khám phá xung quanh hay trong căn phòng của mình. Chìa khóa của vấn đề là hãy có một tư tưởng mới cho việc chụp ảnh. Đừng nghĩ là mình chụp một cái gì đó cụ thể. Bạn hãy tập chụp theo cảm nhận như màu sắc, kiểu dáng, đường nét, bóng đổ… Từ đây bạn sẽ có hàng trăm loại chủ đề khác nhau và không bao giờ cạn hết nguồn ý tưởng để chụp.


Đây là chiếc nhụy hoa lily cắm ở bình hoa nhà tôi. Đề tài loại này cũng dễ dàng tìm thấy ở nhà bạn.
Tốc độ 1/60s
Khẩu độ f/5.6
Độ nhạy sáng ISO 200

2. Sử dụng ống kính đa dạng
Với một máy ảnh DSLR thì bạn có khả năng thay đổi ống kính thoải mái. Hãy sử dụng mọi loại ống kính mà bạn có như ống góc rộng, ống kính tiêu cự dài, ống kính macro… Nếu bạn chỉ có một chiếc máy “point and shoot” hoặc chỉ có một ống kính zoom thì cũng hãy tận dụng việc chỉnh ống kính ra vào. Nếu bạn chụp một chủ đề nào đó bằng ống kính góc rộng, thì cũng nên chụp chính chủ đề đó bằng tiêu cự dài. Mục đích của bài tập này là cho bạn những góc nhìn mới lạ so với những cách bạn thường chụp.


Chỉ dùng một ống kính zoom 18-55mm để chụp ảnh này nhưng việc zoom out và zoom in cho hai góc nhìn khác nhau. Trong ảnh này, khi chụp toàn cảnh tôi đưa zoom về 18mm và khi lấy cận cảnh thì 55mm.

3. Khám phá chất liệu
Rất nhiều vật thể có những bề mặt chất liệu lạ lùng mà khi chụp bạn sẽ tạo ra những bức ảnh lý thú. Bí quyết để chụp chất liệu là ánh sáng, ánh sáng nghịch, ánh sáng xiên luôn tả chất liệu có chiều sâu ba chiều hơn. Ngoài ra khi chụp thể lọai ảnh này, bạn hãy đóng khẩu độ tối đa để đạt được độ nét cao, tạo cho chất liệu sống động hơn.


Một cánh bướm rơi trên một tàu lá chuối ngược sáng đã diễn tả chất liệu và màu sắc lạ lùng.
Tốc độ 1/125s
Khẩu độ f/11.0
Độ nhạy sáng ISO 200

4. Chụp ảnh cầu thang
Ảnh cầu thang luôn cho những hiệu quả thị giác thú vị của việc đan xen những bậc tam cấp. Về mặt ý nghĩa cầu thang thường mang những cảm xúc dẫn dắt ta đến một nơi nào đó. Vì vậy bất cứ nơi nào bạn bắt gặp hình ảnh cầu thang thì hãy lấy máy ra chụp. Cũng nên chụp đủ mọi góc độ từ chụp trên xuống, chụp từ dưới lên… và kết hợp việc chỉnh đủ tiêu cự dài ngắn khác nhau. Nên nhớ khi thả hồn mơ mộng chụp ảnh cầu thang bạn cũng phải quan sát bước chân để khỏi vấp ngã. Ngoài ra, việc có xuất hiện người trong ảnh chụp cầu thang sẽ cho ảnh những ý nghĩa khác so với khi không có.


Ảnh chụp một cầu thang ở Thảo Cầm Viên nghịch sáng và một cầu thang ở một resort Mũi Né thuận sáng. Ảnh cho hai góc nhìn khác nhau về cảm xúc của cùng một loại chủ đề.

5. Tạo khung cho hình ảnh
Thay vì bạn chụp trực tiếp một chủ đề nào đó bạn có thể dùng phương pháp tạo khung. Ví dụ như việc bạn dùng một mái vòm làm tiền cảnh để chụp một khung cảnh xa xa… Bạn cũng nên ghi nhớ khi thực tập chụp phương pháp này là ta sẽ đóng khẩu độ nhỏ để tiền cảnh và hậu cảnh cùng rõ.


Ảnh được chụp tại Hòn Chồng – Nha Trang, dùng những hòn đá cận ảnh tạo cảm giác xa gần cũng như một khung hình lạ mắt cho ảnh.
Tốc độ 1/60s
Khẩu độ f/5.6
Độ nhạy sáng ISO 200

6. Cắt cúp ảnh
Khi chụp ảnh số bạn cũng nên biết cách sử dụng cơ bản những phần mềm xử lý ảnh mà Photoshop như là một ví dụ. Những tấm ảnh sau khi cắt cúp sẽ có bố cục khác, diễn tả một ý khác so với ảnh gốc ban đầu.
Việc cắt cúp này cũng có thể thực hiện được trên máy ảnh bằng phương pháp chụp của bạn. Cùng một vị trí chụp nếu bạn zoom ống kính, xoay máy đứng hay ngang… sẽ tạo ra những bố cục hình khác nhau.


Cùng một góc độ khi chụp đứng ở hình này cho chiều sâu của con đường, nhưng khi chụp ngang lại có cảm giác không gian rộng mở.

7. Bóng đổ
Bóng đổ sẽ mang lại những cảm nhận khác nhau cho bức ảnh của bạn. Có những bóng đổ tạo ra sự sợ hãi, khắc nghiệt, khô khan… nhưng cũng có bóng đem lại sự thơ mộng, êm đềm… Bóng đổ có thể tạo ra do ánh sáng tự nhiên, và ánh sáng đèn flash nữa. Hãy chọn những góc độ để đưa bóng đổ vào ảnh của bạn như là một phương pháp thể hiện hiệu ứng hình ảnh.

Ảnh chụp tại Đường hoa Nguyễn Huệ cho cùng một loại chủ đề nhưng góc độ khác nhau nhằm tạo ra hiệu ứng bóng đổ.

8. Mặt trời mọc – mặt trời lặn
Mặt trời mọc hay lặn đều cho những khoảnh khắc tuyệt đẹp. Vấn đề là bạn cần phải biết rõ thời điểm và vị trí mặt trời lên xuống trong ngày để sẵn sàng cho mình góc chụp. Mặt trời mọc và lặn thường rất nhanh và thay đổi tùy theo các mùa trong năm. Khi chụp ảnh hoàng hôn hay bình minh bạn cần có một chân máy khi ánh sáng quá yếu. Ngoài ra hãy dùng ống kính normal hay góc rộng là chủ yếu (dĩ nhiên cũng có thể dùng ống têlê như chúng ta đã nói ở trên). Phương pháp đo sáng là chỉ tập trung đo vào phần bầu trời chung quanh mặt trời. Để không làm hỏng bộ cảm ứng ánh sáng máy ảnh, bạn hãy chờ cho ánh sáng mà mắt ta nhìn không quá gắt hãy chụp.


Ảnh chụp cảnh hoàng hôn tại một câu cầu ở Bến Bình Đông -TP Hồ Chí Minh, ảnh cũng được xử lý Photoshop cho màu sắc “đẹp và mơ màng” hơn.

9. Thể hiện cảm xúc tự nhiên
Khi chụp những ảnh lưu niệm, thông thường bạn đều sắp xếp cho mọi người nhìn thẳng vào ống kính sau đó đếm 1,2,3 và chụp. Bên cạnh việc đó bạn cứ để mọi người tự nhiên sinh hoạt rồi chọn chụp những khoảnh khắc này nhằm tạo ra tình cảm cho bức ảnh. Chìa khoá của bài tập ở đây là tạo cho bạn phải sử dụng nhiều góc độ, nguồn sáng cũng như chụp thật nhiều mới chọn được một ảnh ưng ý.


Một khoảnh khắc chụp hai chú tiểu tại một ngôi chùa ở Hóc Môn – TP Hồ Chí Minh. Việc chủ đề không nhìn vào ống kính đem lại một góc nhìn tự nhiên.

 

Nguyễn Thứ Tính
Dành cho Beginner
Nguồn: www.tinhphoto.com

Chụp giọt sương long lanh

Chụp ảnh “macro” dùng để chỉ đến việc chụp ảnh ở khoảng cách rất gần với vật thể.  Macro thật sự là khi bạn có thể chụp vật thể ở tỉ lệ 1:1 hay phóng đại đến 10:1. Để thực hiện được điều này chúng ta cần có những ống kính chuyên cho macro như 60mm, 90mm, 100m… Ở bài viết này tôi muốn chia sẻ kinh nghiệm chụp cận ảnh với một vật thể đơn giản là giọt nước và bạn có thể ứng dụng ngay với cả máy point anh shoot.

1. Chuẩn bị phương tiện
Đối với các loại máy ảnh DSLR bạn có thể sắm cho mình một ống kính macro chuyên dụng nếu có khả năng. Trong phạm vi sử dụng tối ưu những gì mình đang có bạn có thể dùng chiếc máy Point and Shoot của mình với ống kính zoom. Chân máy là dụng cụ khá cần thiết tránh cho máy không bị rung nhoè hình. Trong những phòng chụp chuyên nghiệp người ta vẫn thường mở nhạc tạo cảm giác thoải mái. Vì vậy, bạn có thể đeo một máy nghe nhạc MP3 để tạo sự phấn khích khi chụp.

2. Đối tượng chụp
Chủ đề chụp macro khá là đa dạng, bạn có thể chụp từ chiếc điện thoại của mình, chiếc đồng hồ đeo tay hay những nhuỵ hoa bé xíu cho đến một chú bướm, chuồn chuồn…Ở đây tôi chọn chụp những giọt nước trên lá cây vào buổi sớm làm ví dụ. Đơn giản là do vật thể tĩnh dễ chụp cũng như diễn tả tình yêu thiên nhiên của mình. Bạn cũng nên bắt đầu từ những vật thể đơn giản trong kỹ thuật chụp cận ảnh của mình trước khi chụp những đối tượng chuyển động.

3. Địa điểm và thời gian chụp
Hãy chọn địa điểm nào bạn cảm thấy thư giãn tạo hứng thú cho bạn, có thể là vườn cây quanh nhà hay công viên nào đó..  Ở đây tôi chọn Thảo Cầm Viên vì địa điểm gần nhà và tôi cũng cảm thấy thoải mái với không khí ở đây. Thông thường tôi chọn buổi sáng vào khoảng 7g30  vì lúc này lá cây sẽ trông tươi mát dưới ánh sáng xiên.

4. Kỹ thuật chụp
Với những máy ảnh phim SLR, kỹ thuật số DSLR và được trang bị ống kính macro thì bạn sẽ dễ dàng hơn khi chụp vật thể khá gần và đạt được tỉ lệ lớn trên khung hình. Nên đóng khẩu độ tối đa có thể như f/11, f/16, f/32 để được khoảng nét sâu. Cũng có thể chọn chế độ A (Aperture Priority), khi đó bạn chỉ việc chọn khẩu độ và máy sẽ tự điều chỉnh tốc độ phù hợp. Nếu bạn chỉ có một ống kính zoom thì hãy tận dụng những gì đang có bằng cách chuyển sang tiêu cự dài nhất và chuyển nút sang nút macro (nếu có trên ống kính) để chụp.
Với những máy Point and Shoot thì chuyển máy sang chế độ macro (bông hoa tulip) và chú ý nếu bạn đưa máy quá gần mà không canh nét được thì bạn phải lùi ra.
Hãy xem những ví dụ bên dưới tôi minh hoạ cụ thể cho việc chụp ảnh này. Các giọt nước trong hình là do nước đọng lại do tưới cây tạo cảm giác giọt sương long lanh. Điểm kỳ thú là loại lá này với cấu tạo đặc biệt có khả năng giữ lại những giọt nước.

Ảnh được chụp bằng phim Fuji Superia 100, máy Nikon N8008 ở tốc độ 1/30s khẩu độ f/16. Ống kính zoom Nikkor 28-105mm, và đã chuyển nút sang nút macro trên ống kính ở tiêu cự 105mm. Ảnh cũng được xử lý màu sắc qua Photoshop.

Ảnh được chụp bằng máy Canon EOS Kiss Digital N ở tốc độ 1/15s, khẩu độ f/11, ISO 100. Ống kính zoom 18-55mm ở tiêu cự 55mm. Máy ảnh cũng được đặt lên chân và chụp bằng chế độ tự chụp self-timer giúp chống rung do tốc độ chụp chụp chậm.

Nguyễn Thứ Tính

Dành cho Beginner

Nguồn: http://www.tinhphoto.com


Chụp sai mà đẹp

Trong những ngày đầu cầm máy ai trong chúng ta cũng phải học nhiều lý thuyết lẫn nguyên tắc để làm sao chụp cho ảnh sắc nét, đúng sáng, đúng bố cục… Nếu chụp không đúng sẽ làm ảnh sai nét, thiếu hoặc dư sáng, nhoè…nhưng trong số những ảnh chụp sai này đôi khi lại có những tấm ảnh đẹp mà bạn cho là “chụp rùa được”. Tuy vậy, sau khi đã nắm hết nguyên tắc chụp ảnh, rồi bạn không theo nó hay nghĩ ra những cách chụp khác biệt lại tạo ra những ảnh khác thường và có khi lại đẹp đặc biệt. Ở bài này chúng ta cùng nhau trao đổi với nhau những cách chụp sai mà vẫn đẹp.

1. Chụp tốc độ chậm mà vẫn cầm tay

Khi cầm một chiếc máy với body và ống kính không nặng lắm, bạn có thể chụp ở tốc độ 1/125s trở lên là không bị rung. Có nhiều bạn có thể chụp cầm tay tốt ở 1/60s và có khi xuống đến 1/30s nhưng dưới tốc độ 1/15s thì tốt nhất bạn nên đặt máy ảnh lên chân. Ngoài ra, máy ảnh đặt lên chân sẽ giúp bạn có thể  bố cục khung ảnh dễ dàng hơn. Nếu chụp ảnh ở tốc độ chậm mà không có chân máy thì ảnh thường sẽ nhoè do rung tay. Nhưng có những tình huống  chỉ xảy ra trong tích tắc và bạn phải chụp mà không có chân máy thì bạn cứ bấm máy. Hãy nghĩ đến khoảnh khắc mà đừng nghĩ đến việc có chân máy hay không nữa, và cũng nên áp dụng thêm kỹ thuật lia máy trong lúc này nữa.

Ánh 1: Ảnh chụp một góc đường Đồng Khởi, Quận 1. Ảnh chụp ở tốc độ 1/30s, khẩu độ f/1.8, ISO 120. Ảnh cầm tay nên bị mờ nhoè nhưng nó vẫn có cảm giác lãng mạn riêng.

2. Không dùng đèn flash khi thiếu sáng

Mỗi khi chụp ảnh trong nhà thường là bạn sẽ bật đèn flash lên, trong một số chế độ chụp ảnh, máy cũng tự động kích cho đèn flash hoạt động. Tuy vậy, bạn có thể đọc lại cuốn hướng dẫn sử dụng máy và chuyển máy sang chế độ chụp không có đèn xem sao. Để giúp cho ảnh đủ sáng trong trường hợp này, bạn có thể mở khẩu độ, giảm tốc độ và tăng độ nhạy ISO lên. Chụp không có đèn flash thì những nguồn sáng còn lại trong phòng hoặc bên ngoài hắt vào sẽ là nguồn sáng chính và nó thể hiện ánh sáng của không gian trung thực hơn.

Ảnh 2: Ảnh chụp với ánh sáng của tự nhiên của bối cảnh mà không dùng đèn flash.

3. Chụp mà không cần sắp xếp

Khi chụp ảnh lưu niệm, chúng ta thường cho đối tượng được chụp biết mình sẽ chụp nhất là sau khi đếm 1,2,3. Khi chụp một người chúng ta sẽ chỉnh sửa hướng nhìn của nhân vật và thông thường nhất là nhìn vào ống kính. Khi chụp nhóm đông nhiều người chúng ta thường sắp xếp những người thấp ở giữa và ở hàng phía trước, những người cao hơn ở phía sau hoặc cao dần sang hai bên. Tuy vậy, quan sát chủ đề của mình trong chuỗi hoạt

động và chụp mà không cần báo trước sẽ tạo ra những khoảnh khắc thú vị. Lúc này bạn đừng nghĩ ngợi gì về bố cục mà chỉ tập trung làm sao diễn tả được tính cách, hay tình cảm của nhân vật của mình. Dĩ nhiên sẽ có những ảnh đẹp và không đẹp, nhưng bạn đang sử dụng máy ảnh số nên ảnh không đẹp có thể xoá đi dễ dàng.

Ảnh 3: Ảnh chụp một buổi sinh hoạt chụp ảnh sáng tác. Ảnh chụp mà không có sự sắp xếp trước đối với người được chụp.

4. Bố cục sai thì sao

Khi mới chụp ảnh, thông thường thì ta sẽ đạt chủ đề ở trung tâm ảnh và canh sao cho khoảng cách hai bên và trên dưới đều nhau. Diễn tả việc này ngộ nghĩnh nhất có thể gọi chủ đề là hạt nhân của ảnh. Khi đã hiểu khái niệm về bố cục, chúng ta luôn chụp sao cho ít nhất là chủ đề không nằm ở trung tâm của ảnh nữa, vì theo lý thuyết nó nên nằm ở đường mạnh, điểm mạnh. Tuy nhiên có những ảnh bạn cứ chụp sai như thuở ban đầu là cho chủ đề vào giữa và canh đều hai bên và trên dưới thì vẫn tạo ra những ảnh lạ mắt. Ngoài ra với lý thuyết bố cục 1/3 thì phía trước mặt chủ đề luôn có khoảng trống khoảng 2/3 chiều dài của ảnh để nói nôm na là cho chủ đề thở. Nhưng khi bạn không theo nguyên tắc bằng cách chỉ cho trước mặt chủ đề còn 1/3 cũng có thể tạo diễn tả một ý khác như sự bế tắc, sự kết thúc….

Ảnh 4: Chủ đề chính là thân cây nằm ở giữa, tuy nhiên bối cảnh ở phía sau gồm đồi núi, tàng cây đã giúp cho chủ đề không chia ảnh ra làm 2 phần tách biệt.

5. Đường chân trời ngả nghiêng

Khi chụp ảnh mà đường chân trời không nằm song song với cạnh của ảnh, thường bị người xem đánh giá kỹ thuật chụp ảnh còn non tay. Vì vậy, chúng ta khi chụp ảnh thường phải canh sao cho đường chân trời phải thẳng, nếu chưa được ưng ý khi chụp thì ta lại dùng một phần mềm biên tập ảnh như Photoshop chẳng hạn để xoay nó lại lúc xử lý ảnh. Tuy vậy, nếu bạn chụp đường chân trời ngả nghiêng nó cũng có ý nghĩa riêng của nó. Trước hết nó có thể diễn tạ tính chuyển động trong ảnh nhất là ảnh thể thao, kế đến là chân trời ngả nghiên cũng diễn tả sự không vững chắc, chao đảo và tạo một sự chú ý hơn  đối với người xem.

Ảnh 5: Trong hoàn cảnh đang ngồi trên canô chạy với tốc độ cao thì thật khó mà có thể canh cho đường chân trời song song với cạnh ảnh. Chân trời nghiêng ở đây cho cảm giác chao đảo, lắc lư.

6. Chụp mà không cần nhìn vào khung ngắm

Có khi nào bạn chụp mà không cần nhìn vào màn hình LCD hay khung ngắm không? Cũng đôi khi bạn cần phải làm như vậy, ví dụ bạn đang đứng trong một đám đông và đưa máy lên cao để chụp chung quanh. Bạn có thể để máy ở chế độ tự động, tuy nhiên theo kinh nghiệm cá nhân của tôi thì chế độ tự động sẽ cung cấp cho bạn những thông số tham khảo  về tốc độ và khẩu độ. Lúc này bạn hãy chuyển máy sang chế độ chỉnh tay và cài đặt tốc độ khẩu độ theo những thông số ở trên, rồi bạn lấy nét tay với khoảng cách ước lượng rồi chụp. Không phải tất cả những ảnh chụp với phương pháp này đều chính xác,  nếu bạn chụp được hơn 1/2 số ảnh đúng sáng và đúng nét là thành công rồi. Bạn cũng có thể áp dụng cách chụp này khi chụp từ sát dưới đất hướng ống kính lên trên khi không thể nào nằm xuống đất để chụp.

Ảnh 6: Ảnh được chụp bằng cách đặt máy xuống sát mặt đất và hướng ống kính lên. Ảnh chụp bằng cách ước lượng lấy nét và bố cục vì tôi không nhìn vào khung ngắm.


Nguyễn Thứ Tính
Dành cho người mới bắt đầu
Nguồn : www.tinhphoto.com